Monthly Archives: September 2016

Về hưu là một trong những thời kỳ làm việc có hiệu quả?

Ở bài viết này, chúng tôi không nói tới những người xem về hưu đồng nghĩa với đo ván phải xa rời cương vị, bổng lộc, thói quen, cũng không nói tới những kẻ xem về hưu là hạ cánh an toàn, sau những phi vụ làm nghèo dân, nghèo nước. Các trí thức lớn, từng công tác trong các lĩnh vực lãnh đạo, nghiên cứu, đào tạo… khi về hưu họ sống ra sao?. Vốn tri thức, kho kinh nghiệm của họ có còn tác dụng? Họ suy nghĩ, trăn trở gì trước những đổi thay lớn của đất nước đã và đang diễn ra?
Mời các bạn làm quen với giáo sư – tiến sĩ Trần Văn Hà, 76 tuổi, đã nghỉ hưu 10 năm nay.
Tuổi già và sức khỏe
Giáo sư Trần Văn Hà vừa hoàn thành một công trình khảo cứu nhỏ. Vẫn đúng theo phương pháp của ông xuất phát từ người thật, việc thật, ghi chép và chắt lọc, sau đó tổng kết dưới dạng một bài báo hoặc giáo trình. Trong công trình này, có những việc ông đã ghi chép từ cách đây hơn nửa thế kỷ về cụ Trần Lê Nhân, có việc trong năm nay về bác Phạm Văn Đồng, bác Võ Nguyên Giáp. Có thể đặt tên cho công trình nhỏ này “Bí pháp Thọ – Kiện – Minh” (phương pháp để sống lâu, mạnh khỏe, minh mẫn), giáo sư Hà có một bảng câu hỏi gồm 5 câu. Trạng thái sức khỏe, bệnh tật. Phương pháp luyện tập, dưỡng sinh. Chế độ ăn uống, bồi dưỡng. Chế độ làm việc, nghỉ, ngủ, giải trí, hiệu suất công việc. Cách giải tỏa những nỗi buồn phiền, lo âu bực tức. Những người được ông tìm hiểu là những vị cao niên trên 70, trên 80 trên 90 tuổi, vẫn khỏe mạnh, rất minh mẫn, vẫn làm việc có hiệu suất cao và có những công trình quan trọng. Có thể kể tên Phạm Văn Đồng – 95 tuổi, Võ Nguyễn giáp 87 tuổi, Nguyễn Lân 93 tuổi, Trần Lê Nhân 89 tuổi… và khoảng 20 người khác. Trong bài viết đã được đăng báo của mình, giáo Trần Văn Hà công bố những thông tin rất hấp dẫn. Bác Phạm Văn Đồng tại thời điểm này ngày đi bộ 3 lần mỗi 1 tiếng, làm việc và nghe độc báo 5 tiếng. Bác Đồng ăn ba bữa, gần giống nhau cháo, súp và rau. Đặt mình chỉ 10 phút đến 15 phút là ngủ được. Bác Võ Nguyên giáp mỗi ngày ngồi thiền 1 tiếng, mỗi chiều đi bộ 1 tiếng trong vườn, cuốn sách mới công bố năm 1997 năm 86 tuổi “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” có tiếng vang lớn. Cụ Trần Lê Nhân (đồng tác giả cuốn “Cổ học tinh hoa”, là thầy giáo của giáo sư Trần Văn Hà lại gói ghém kinh nghiệm sống trong mấy câu thơ rất mộc mạc và dễ nhớ là nhẫn và nhưỡng. Nhẫn là “có khi nhẫn để yêu thương, có khi nhẫn để liệu đường lo toan, có khi nhẫn để vẹn toàn, có khi nhẫn để nhớ tàn hại nhau. Nhường là đường đời nghĩ cũng nên nhường, nhường người một bước rộng đường ta đi, suốt đời đã chẳng thiệt gì, lại còn hơn được kẻ vì người yêu, giáo sư Trần Văn Hà theo tôi biết, cũng đủ điều kiện để xếp vào lớp người Thọ – Kiện – Mih. Nhiều năm nay ông duy trì thời gian biểu làm việc không dưới 10 tiếng trong một ngày. Ông cũng tập thiền và khí công rất đều, theo ông hai môn này giúp xác lập trạng thái quân bằng và cho khả năng làm việc với cường độ cao mà không bị mỏi mệt. Chế độ ăn uống của ông rất khoa học, được duy trì từ nhiều chục năm. Một lần giáo sư Hà đến chơi nhà tôi và ở lại ăm cơm. Khi ngồi vào mâm, ông đề nghị lấy thêm cho ông một chiếc bát con nữa. Thì ra bát này để ông ăn cơm, bát kia để ông ăn canh, không ăn chung. Khi ăn, ông nhai cơm rất kỹ ông cho biết ở nhà, mâm cơm của ông không thể thiếu lọ muối vừng, đó chính là loại thức ăn chủ lực. Ông thường khuyên chúng tôi muốn đến 70 tuổi vẫn còn khả năng làm việc tốt phải rèn luyện được phương pháp làm việc phương pháp dưỡng sinh khoa học từ khi còn trẻ. Hẳn sẽ có bạn đọc thắc mắc người già mà còn làm việc nhiều vậy để làm gì. Chẳng hạn, giáo sư Hà 76 tuổi vẫn làm việc không dưới 10 tiếng môt ngày, đó là những công trình gì vậy? Liệu được sinh thành vào tuổi xế chiều, những công trình đó có thật có ích cho cuộc sống hôm nay không?
Vac, Vracdt và PPTH-H
Trong cái đề mục nhiều cụm từ viết tắt trên có lẽ chỉ có VAC ta hay đọc vê-a-xe có vẻ quen quen. Vâng, VAC có thể hiểu là viết tắc của vườn – ao – chuông. Nói cách khác, VAC là ký hiệu của mô hình kinh tế gia đình theo hướng sản xuất nông nghiệp, kết hợp hài hòa giữa trồng trọt và chăn nuôi cả trên cạn lẫn dưới nước. Hiện nay, vườn – ao – chuồng đã trở nên hết sức thân thuộc với nông dân Việt Nam. Rất nhiều bà con cả miền xuôi lẫn miền ngược giàu có, sung túc, nhờ áp dụng tốt mô hình này. Tuy nhiên, có lẽ có ít người biết tác giả của vườn – ao – chuồng là ai? Chúng tôi xin trả lời đó chính là giáo sư Trần Văn Hà, giáo sư Trần Văn Hà nhớ lại, lần đầu tiên làm thí điểm mô hình vườn – ao – chuồng ngày đó chưa có ký hiệu tắc vườn – ao – chuồng tại xã Quảng Hải, Thanh Hóa, từ năm 1956 đến năm 1961. Thời gian ấy nhiều người phê phán phát triển kinh tế gia đình là có tư tưởng tiểu tư sản. Nếu để kinh tế gia đình mạnh lên, tức là làm yếu đi kinh tế tập thể. Có thể vườn – ao – chuồng đã không có đất để tồn tại, nếu như tháng 8 năm 1961, báo nhân dân không xuất hiện bài viết của tác giả Trần Lực một bút danh của Bác Hồ khen ngợi mô hình ở Quảng Hải, và đề nghị các chị bộ xã trên toàn miền Bắc làm theo Quảng Hải! Còn VRACDT là ký hiệu một mô hình đầy đủ hơn, r là rừng, d là dịch vụ, t là thủ công nghiệp.Vườn – ao – chuồng kết hợp với trồng rừng, làm dịch vụ và nghề thủ công. Trong những điều kiện của môi trường sinh thái, môi trường xã hội hiện nay ở nước ta đất đai canh tác ngày càng thu hẹp do đô thị hóa ồ ạt và dân số tăng nhanh, diện tích đất trống đồi trọc tăng do nạn phá rừng và khai thác khoáng sản bừa bãi, có thể nhận thấy VRACDT không chỉ là một mô hình kinh tế gia đình nó trở thành cứu cánh sinh thái cho từng vùng, cho toàn quốc. Bây giờ, mà nói đến vườn – ao – chuồng và VRACDT nghe cứ … hiển nhiên thế nào ấy. Sau năm 1975, giáo sư Hà có điều kiện đi khảo sát thực tế làm ăn của nông dân miền Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, ông đã nhận thấy: Từ mô hình vườn – ao – chuồng mang tính tự cấp, tự túc, tiến sang kinh tế nông trại VRACDT sản xuất ra hàng hóa là một bước đi có tính quy luật. Và ông đề xuất mô hình VRACDT. Tuy nhiên tại thời điểm đó, VRACDT chưa phải đã được chấp nhận dễ dàng… Phải đến đại hội Đảng VI, với đường lối đổi mới và khẩu hiệu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, nông dân bắt đầu được khoán đất, rồi khoán rừng, khuyến khích làm giàu trong nền kinh tế nhiều thành phần, VRACDT mới có điều kiện phát huy hết các tính năng ưu việt của nó. Vẫn giữ nguyên nét đặc trưng của một lớp người hôm qua, ông xem lao động trước hết là cống hiến, tiền bạc chỉ là vấn đề đã thứ ếu. Thế nhưng ông đang rất chăm chú khi được nghe bọn trẻ nói về những vấn đề đương đại, về khó khăn trong tìm kiếm việc làm, về công tác thanh niên về cải cách giáo dục cả những vấn đề đang nhức nhối, nổi cộm trong đời sống xã hội. Thế còn PPTH-H là gì? Đây là ký hiệu của “Phương pháp xử lý tình huống hành động”. Theo nhận xét của riêng tôi, đây là công trình quan trọng nhất có ý nghĩa nhất của giáo sư Trần Văn Hà. Bởi PPTH-H là chìa khó để mở những cánh cửa, là chiếc liềm để gặt trên cánh đồng. Trong phạm vi bài viết này xin nói ngắn gọn PPTH-H là phương pháp chủ trương tạo ra năng lực giải quyết vấn đề cho con người, thông qua việc điều tra thu nhập tư liệu liên quan đến các tình huống, phân tích, tổng hợp và đưa ra quyết định hành động đúng đắn, giáo sư Hà áp dụng PPTH-H rất thành công vào các lĩnh vực nghiên cứu, lãnh đạo quản lý, giáo dục, đào tạo. Ông viết nhiều giáo trình về khuyến nông, về đổi mới phương pháp giảng dạy, đều dựa trên PPTH-H và trong quá trình đó, ông tiếp tục hoàn thiện phương pháp này.
Về hưu một thời kỳ mới
Các công trình lớn của giáo sư Trần Văn Hà chúng tôi vừa kể trên, không phải được hoàn thành trong thời kỳ giáo sư đang công tác, cũng không phải chỉ khi về hưu ông mới nghiên cứu, hoàn thiện. Ở tất cả các công trình đó đều có sự nối tiếp và phát triển, qua hiai thời kỳ trong cuộc đời giáo sư, thời kỳ đang chức và thời kỳ nghỉ hưu, giáo sư Hà chính thức nghỉ hưu vào năm 1989. Đây là lúc ông có điều kiện để tổng kết, hệ thống lại những tư liệu, những nghiên cứu mình tâm đắc nhất. Mặc khác sự thay đổi, phát triển của thực tế cuộc sống lại cung cấp thêm những tư liệu mới, đạt ra những bài toán mới. Chẳng hạn giáo trình của ông về PPTH-H cuốn phương pháp khoa học và làm của kỹ sư nông lâm nghiệp xuất bản in đầu tiên năm 1985, được viết trên 5 nghìn tình huống có thật. Khi giáo trình này được tái bản vào năm 1995, nó đã được bổ sung thêm 1 nghìn tình huống mới tổng cộng 2.500 tình huống có thật. Công việc chính hiện nay của ông viết sách, viết bài cho các báo và tạp chí, đọc tài liệu và ghi chép, đi giảng bài cho các trường đại học kể cả các trường ở xa Hà Nội, năm 1997 ông đi giảng cho hơn 20 trường đại học và chuyên nghiệp trong cả nước. Có thể nói viết, đọc, giảng dạy được ông yêu thích ngang nhau. Ông chỉ ghét… họp. Có một kỷ niệm bi hài trong đời công tác mà ông rất khó quên. Ngày đó, ông đang giữ chức Tổng Cục trưởng Tổng cục chăn nuôi. Người ta đã bắt được hai cán bộ trong cơ quan hủ hóa với nhau. Ông được đề nghị chủ trì một cuộc họp để xử lý. Ông bảo nó hủ hóa ở ngoài cơ quan chứ ở trong cơ quan đâu mà bắt tôi xử lý? Người ta không nghe. Lại bảo nó hủ hóa ngày chủ nhật chứ phải ngày làm việc đâu mà bắt tôi xử lý? Người ta cũng không nghe. Một cán bộ nữ của cơ quan còn trực tiếp đấu tranh với ông là không có tinh thần bảo vệ phụ nữ. Cực chẳng đã, ông đành phải ngồi dự một cuộc họp kéo dài nhiều giờ, mà không thấy một chút hứng thú nào. Chính khi về hưu là một trong những thời kỳ tôi làm việc có hiệu quả nhất. Ông tâm sự không phải mất thời gian cho những việc quan liêu, hành chính nữa. Được làm đúng những công việc mình yêu thích nhất, một cách chủ động nhất. Về hưu, tư tưởng rất thoải mái, mà tư tưởng đã thoải mái rồi thì dĩ nhiên làm việc sẽ đạt đươc hiệu quả cao. Điều ông vừa nói nghe mới đơn giản làm sao. Thế còn năng lực của đầu óc? Cường độ làm việc của cơ thể? Sự nhảy cảm để nắm bắt vấn đề mới và khả năng dũng cảm để thừa nhận khi phát hiện ra những sai lầm trong quá khứ? Chả nhẽ khi tuổi già đến thì những điều này lại dễ dàng hơn sao? Dường như bắt mạch được những bâng khuâng của chúng tôi, ông nói thêm dĩ nhiên để khi về hưu có thể tiếp tục làm việc tốt, trước hết phải yêu nghề. Trong quá trình công tác, phải ham thu thập tư liệu, ham tìm tòi nghiên cứu. Và phải xây dựng cho mình phương pháp làm việc – nghỉ ngơi – ăn uống tập luyện khoa học từ khi còn trẻ.
Hôm qua và hôm nay
Ngồi ở nhà ông một căn hộ hết sức giản dị ở tầng ba chung cư để được nghe nông nói về kinh dịch về Lê Qúy Đôn, về Hồ Chí minh là điều hết sức thú vị. Dường như mỗi lần gặp ông, tôi lại vỡ vã ra môt cái gì đấy. Nhưng, rõ ràng, có những cái không thể nói hết được với ông. Ông không thích hỏi ông kiếm được bao nhiều tiền qua công việc ông đang làm. Vẫn giữ nguyên nét đặc trưng của một lớp người hôm qua, ông xem lao động trước hết là cống hiến, tiền bạc chỉ là vấn đề đã thứ ếu. Thế nhưng ông đang rất chăm chú khi được nghe bọn trẻ nói về những vấn đề đương đại, về khó khăn trong tìm kiếm việc làm, về công tác thanh niên về cải cách giáo dục cả những vấn đề đang nhức nhối, nổi cộm trong đời sống xã hội. Ông bảo đấy tình huống đấy. Các anh đã đưa ra được tình huống rồi, hãy xử lý nói đi. Và ông ngồi yên lặng lắng nghe cách xử lý tình huống của người đối thoại.
Đinh Anh Tuấn-Trí Thức Trẻ – số 42 – tháng 12 – 1998.

Du khảo trong lòng đất

Từ đầu thế kỷ 20, người ta đã đặc biệt chú ý đến khảo sát các hang động, sông ngầm vì nó có thể đem lại cho loài người nhiều sự hiểu biết mới mẻ về các khoa khảo cổ học, địa chất học, sử học. Thêm vào đó, hang, động với vẻ đẹp muôn hình vạn trạng của nó còn thu hút người ham thích du lịch. Trong những cuộc thám hiểm đầu tiên, người ta chỉ dùng một số dụng cụ cần thiết như dây đu, gậy chống, dụng cụ ghi dấu dọc đường và ca nô để di chuyển trên mặt sông ngầm dưới hang. Dần dần, người ta mang theo một số dụng cụ khác như la bàn, đèn nến hay đèn điện, nhiệt kế, còi…. Càng chinh phục được thêm chiều sâu, người ta phải cải tổ dần các phương tiện như thay dây đu thường bằng các trục kéo với dây cáp thật khỏe, hoạt động bằng điện lực. Các nhà thám hiểm cũng được che chở bên trong các bộ đồ đặc biệt để tránh ảnh hưởng của khí hậu, hoặc nóng quá hoặc lạnh quá. Người ta đã chế ra một loại máy lặn đặc biệt dùng trong các sông ngầm dưới hang, động. Về sông ngầm, người ta có nhiều cách xuống để khảo sát, tùy theo khúc sông. Từ năm 1897 nước Pháp đã thành lập một phòng thí nghiệm chuyên khảo sát sinh vật sống dưới hang động, giống vật có nhiều nhất ở đây là loài dơi. Ông Casteret, một nhà hang động học đã khảo sát một cách thích thú khả năng định hướng của loài dơi. Ông bắt nhiều con vật sống cùng dưới một cái hang và đem đi thả vài con chỗ này, vài con chỗ khác, cả hai nơi đều cách xa hang trên một trăm cây số và kết quả cho biết tất cả các loài dơi đều bay trở về hang ngủ. Trong hang động ngoài dơi ra còn có nhiều sinh vật nhỏ khác. Người ta còn gặp cả một loại tôm đui, không có màu như cá, ếch, cũng đui và không có màu, sâu bọ, ốc sò, nhện…. mà một số lớn dường như cùng họ với sinh vật bên ngoài. Khi khám phá thêm một hang động mới, người ta thường thu nhập thêm nhiều hiểu biết mới về sự sống dưới lòng đất (Trích Adventure Review New Zealand).
Viện bảo tàng nghệ thuật 3 chiều trên CD-ROM
Một CD-ROM nổi tiếng vừa xuất hiện trên thị trường giá là 24,95 đô la Mỹ gồm trên 670 tác phẩm nghệ thuật được mô phỏng từ các bản gốc ở nhiều bảo tàng khác nhau. Đặc biệt, bạn có thể ngắm các tác phẩm trong không gian 3 chiều bằng một loại kính đặc biệt. Bạn cũng có thể xem một xác ướp trong quan tài bằng đá, phóng to nó ở cụ ly gần hoặc tháo bỏ cái mặt nạ của nó để xem một gương mặt được bảo quản bên dưới. Bạn có thể sờ được chiếc gas-men của cố tổng thống Mỹ George Washington trong cuộc nội chiến Cách mạng. CD – Rom sẽ là một chuyến du lịch giá trị.
Minh Trang-Trí Thức Trẻ – số 42 – tháng 12 – 1998.

Thuật chiêm tinh?

Đọc xong bài “Đại thập tự giá” của ông Hà Vi Tử – Tri thức trẻ số 37 tôi đã rất ngạc nhiên và đã viết bài trao đổi nhằm đem lại những tri thức khoa học chính xác cho bạn đọc. Nỗi ngạc nhiên đó đã được giải tỏa khi đọc bài nguồn gốc chiêm tinh học – Tri thức trẻ số 40. Tiếc thay hai hành tinh sáng đẹp nhất bầu trời đã bị ông Vi Tử nói đúng hơn là các tín đồ Chiêm tinh đã gọi là ác tinh. Sao Kim và sao Mộc là 2 trong số 9 thiên thể mà nhà triết học tự nhiên nổi tiếng Aristot đã vẽ nên mô hình vũ trụ từ 350 năm trước công nguyên. Năm 1610 Galile đã nhìn được 4 vệ tinh gồm 4 mặt trăng của sao Mộc. Ngày nay khi mỗi người nhìn qua kính thiên văn thấy Sao Hôm hay còn gọi là sao Kim chênh chếch đằng Tây, sao mai báo sáng bên này đằng Đông và nhìn thấy các chị Hằng xếp hàng ngang quanh sao Mộc thì không thể không hoan hỷ bởi cảnh đẹp thiên nhiên và bởi trí tuệ kỳ diệu của con người. Đã một thời chiêm tinh được thịnh hành, trong cung điện nhà vua luôn có cố vấn chiêm tinh. Khi còn trẻ các nhà thiên văn Tycho Brache và Kepler cũng đã một thời lập ra lá số để kiếm tiền nuôi thân. Song dần dần chiêm tinh bị tàn lụi. Đến thời vua Louis XIV thì triều đình bãi bỏ cố vấn chiêm tinh. Chiêm tinh thực sự bị tàn lụi ở thế kỷ XVII. Thế mà theo chiêm tinh thì sao Kim và sao Mộc là hai ác tinh liên kết với các hành tinh khác một mặt gây ra sự xung đột tương tác giữa chúng, mặt khác xếp các hình chữ thập, tam giác tạo ra các năm Dần để gây ra các hiệu ứng âm lực ly tâm, âm dương tiêu trưởng làm cho Trái đất tẩu hỏa nhập ma… và rồi họ lo cho nhân loại bằng theo dõi từng đường đi, nước bước của vị ác tinh to lớn này vi hành đến năm nào sẽ phát ra uy lực mạnh mẽ của mình để khuyến cáo con người cảnh giác. Chiêm tinh không phải là một khoa học, nó không có chỗ đứng trong khoa học sẽ thuyết trình ở phần sau. Nếu coi là khoa học thì theo từ điển webster là một khoa học giả hiệu chủ trương tiên đoán tương lai bằng xem xét ảnh hưởng không có căn cứ xác thực của vị trí tương đối giữa mặt trời, mặt trăng và các sao. Không thể và không bao giờ có được một sự trao đổi khoa học nghiêm túc giữa khoa học và khoa học giả niệu. Đáng tiếc trong lúc chúng ta đang nghiêm túc trao đổi nhằm đem lại những tri thức chính xác cho bạn đọc vì ông Vi Tử đã khi tử cuộc trao đổi này. Để làm tròn trách nhiệm với bạn đọc, tôi sẽ chỉ đề cập đến những dẫn liệu khoa học những dẫn liệu mà bạn có thể khẳng định được đúng sai. Ngoài ra xin cung cấp những tư liệu khoa học có liên quan đến thuật chiêm tinh để bạn đọc tự rút ra kết luận.
Về điện từ trường của các hành tinh
Theo hiểu biết của tôi thì các hành tinh không phải là những vật tích điện, tức là không có điện trường. Một số hành tinh có từ trường, trong đó từ trường cảu sao Mộc là lớn hơn cả theo số liệu mới nhất của Nasa thì trường của Trái đất khoảng 10 lần. Cảm ứng từ ở bề mặt của nó bằng 4.10 mũ trừ 4 tương đương với 0,0004 tesla đơn vị Sl. Nếu trên bề mặt của hành tinh này có dòng điện cường độ là 1 ampe thì lực từ tác dụng mạnh nhất lên một mét dây điện khi dây điện đặt vuông góc với vec-tơ là F = BIL tương đương với 0,004 N một lực tương tác điện từ vô cùng nhỏ. Cũng tương tự như từ trường của Trái đất từ trường này đủ mạnh để làm lệch hướng các luồng hạt tích điện là proton và electron phóng từ mặt trời với tốc độ cao, buộc các hạt này chuyển động xoắn ốc quanh các đường sức cảm ứng từ, tạo nên các vành đai phóng xạ (vành Allen) gây ra các hiện tượng cực quang khá thường xuyên và nếu luồng gió Mặt trời đủ mạnh khi mặt trời hoạt động có thể gây ra bão từ. Do từ trường của Sao Mộc mạnh hơn của Trái đất nên còng gây hiện tượng bức xúc cộng hưởng bức xạ sóng vô tuyến decamet từng đợt khá mạnh, mạnh đến mức mà tàu vũ trụ Voyager và một số kính thiên văn giao thoa vô tuyến trên mặt đất ghi nhận được. Có thể do nghe nói từ trường Sao Mộc mạnh và có phát ra sóng vô tuyến nên tín đồ Chiêm tinh vội vã tung ra luận điệu do tác động điện từ của Sao Mộc làm cho khí quyển của Trái đất náo động. Ôi thôi nếu như có lực tác động siêu hình như vậy thì Vũ trụ này, Trái đất này chỉ là một con số không. Chúng ta đều biết rằng trong vũ trụ có vô số sao liên tục bức xạ ra năng lượng dưới dạng sóng điện từ từ bước sóng ngắn tử ngoại đến bước sóng dài vô tuyến tử ngoại đến bước sóng dài vô tuyến. Mặt khác chỉ cần nói đến hàng nghìn đài phát thanh, truyền hình trên mặt đất thì cũng đủ thấy chúng ta đang chìm ngập trong siêu đại dương sóng điện từ
Các dẫn liệu sai trái trong 2 bài báo
Để thuận tiện cho bạn đọc tham khảo tôi xin nêu ra những dẫn liệu khao học sai trái đã được sử dụng trong 2 bài báo của ông Vi Tử.
Bài thứ nhất: Sao Thủy, sao Kim nằm chen giữa mặt trời và trái đất có vai trò như Mặt trăng vào các kỳ Nhật thực toàn phần… Trái đất có thêm Mặt trời nhỏ làm tăng thêm độ nóng? Năm Dần đến là năm sao Mộc ở gần Trái đất. Bóng của sao Mộc sẽ trùm lên Trái đất làm lạnh trái đất? Trái đất qua hơn 2 nghìn năm nay đã biến dạng … làm phình to ở giữa và dẹt ở 2 cực? Năm nay có 2 Nhật thực cũng là nguyên nhân gia tốc biến đổi thời tiết? Ngày tháng dương lịch không hàm chứa khái niệm thời tiết?
Bài thứ hai: Hình vẽ trang 16 là hoàn toàn trái với khoa học. Sao Mộc chuyển động quanh Mặt trời với quỹ đạo elip mà Mặt trời lại ở tâm của elip? Theo hình vẽ này thì Sao Mộc cứ mỗi chu kỳ chuyển động lại có hai lần qua điểm cận nhật, hai lần qua điểm viễn cận? Thế thì năm Dần M1 khác gì so với năm Thân M7, năm Mão M2 khác gì so với năm Dậu M8… Quỹ đạo của Sao Mộc tại M9 có khoảng cách gần nhất đối với Mặt trời, bởi chính là bán trục ngắn của chúng? Mặt trời vào ngày vọng hay ngày rằm thì độ lạnh của nó là cao nhất sẽ có tác dụng làm lạnh âm hóa bầu khí quyển ở phía tối hay ban đêm của địa cầu? Chúng ta đều biết ngày rằm âm lịch thì nửa đang là ban ngày của Mặt trời hướng trực diện xuống Trái Đất nên ta thấy Mặt Trăng tròn. Ban ngày nên Mặt Trăng có nhiệt độ rất cao, có nơi ở Xích đạo lên tới 110 độ C, còn nửa ban đêm lại có nhiệt độ rất thấp có nơi xuống tới âm 160 độ C. Lẽ nào khi nửa Mặt Trăng nóng nhất hướng về Trái Đất thì làm lạnh Trái Đất và lẽ nào có sự ngược lại! Hai vong cung lạnh lồng vào nhau thì vỏ địa cầu sẽ chịu một lực hút tăng cường, vỏ Trái Đất nở ra gần 1 phần 2 mét. Thế là chiêm tinh phương Đông đã tìm ra một quy luật mới – lực hút do lạnh? Các hành tinh hấp dẫn nhau bằng những lực hút vô cùng mãnh liệt là nguyên nhân dẫn tới “bão từ”? Hoàn toàn sai trái.
Những dẫn liệu khoa học để tham khảo
Để tìm hiểu các vấn đề về khoa học trước hết mọi người đều biết tra cứu trong các Từ điển bách khoa – bộ sách phản ánh trí tuệ của nhân loại. Về chiêm tinh các từ điển bách khoa Anh, Pháp, Trung, Mỹ đều giải thích một cách thống nhất và đều giải thích bắt đầu bằng những từ thuật toán (the art of, art de…), riêng từ điển Nga viết khoa học lừa đảo… Do khuôn khổ bài báo xin trích các giải thích từ “thuật Chiêm tinh” trong Đại từ điển bách khoa Trung Quốc Zhangxingshu: Thuật căn cứ vào hiện tượng thiên văn để phỏng đoán sự kiện trong dân gian được hình thành từ ngày đầu phát triển của xã hội loài người trên thế giới tại một số vùng văn hóa sớm phát triển như Babilon, Ai Cập, Hy Lạp, Trung Quốc. Không thể và không bao giờ có được một sự trao đổi khoa học nghiêm túc giữa khoa học và khoa học giả niệu. Đáng tiếc trong lúc chúng ta đang nghiêm túc trao đổi nhằm đem lại những tri thức chính xác cho bạn đọc vì ông Vi Tử đã khi tử cuộc trao đổi này. Đó là do ở thời kỳ ấy trình độ nhân thức của con người và lực lượng sản xuất còn rất thấp, họ chưa nắm vững được quy luật của các hiện tượng tự nhiên, vì vậy từ một vài biểu hiện bên ngoài họ đã gắn với biểu hiện vui, buồn, phúc họa của đời sống con người và xã hội. Thuật chiêm tinh đã lợi dụng một số hiện tượng Thiên văn như nhật thực, nguyệt thực, sao mới, sao chổi, sao đổi ngôi và cấu hình của các thiên thể Mặt trời, Mặt trăng và 5 hành tinh như Thủy, Kim, Hỏa, Mộc, Thổ và sự biến hóa của các cấu hình đó để phán xét tương lai. Thòi kỳ đầu thuật Chiêm tinh chủ yếu lợi dụng các hiện tượng thiên văn để phỏng đoán các sự kiện lớn trong xã hội như thắng bại của chiến tranh, sự hung vong của các dân tộc… về sau mở rộng ra các việc phỏng đoán vận mệnh và sự việc hàng ngày của xã hội. Dần theo những khám phá tinh tế những quy luật vận động của các thành viên trong hệ mặt trời, thuật chiêm tinh cũng không ngừng biến hóa bao hàm rất rõ yếu tố thần bí. Chẳng hạn như ở Trung Q uốc lập ra lá số Tử vi, thậm chí hiện nay người ta còn lợi dụng kỹ thuật máy tính để phỏng đoán. Từ điển Pháp, có thêm chi tiết lịch sử thuật đoán số mệnh… dựa vào vị trí của các sao trong bầu trời. Từ các kết quả quan sát các thiên thể trong bầu trời những người Chalde đưa thêm vào những khái niệm về sự cộng hợp liên quan tới sự ảnh hưởng của các sao với thế giới Trái đất. Tại thời điểm sinh đứa trẻ chịu sự ảnh hưởng thần bí của các thiên thể. Chiêm tinh ra đời ở Chalde. Các tu sĩ đọc số mệnh. Mặc dù bị Thiên chúa giáo phản đối nhưng nó không bị dập tắt mà cứ lan truyền dần sang Ai Cập, Hy Lạp, Ý, Tây u… Đã một thời chiêm tinh được thịnh hành, trong cung điện nhà vua luôn có cố vấn chiêm tinh. Khi còn trẻ các nhà thiên văn Tycho Brache và Kepler cũng đã một thời lập ra lá số để kiếm tiền nuôi thân. Song dần dần chiêm tinh bị tàn lụi. Đến thời vua Louis XIV thì triều đình bãi bỏ cố vấn chiêm tinh. Chiêm tinh thực sự bị tàn lụi ở thế kỷ XVII. Tân từ điển Pháp III không còn có từ astrologie. Cuối cùng xin trích ý kiến của hai nhà khoa học lớn, của hai nước có nền khoa học kỹ thuật và nền kinh tế bậc nhất thế giới. Cụ Hoàng Xuân Hãn một học giả uyên thâm Đông, Tây, Kim, cổ người Pháp gốc Việt đã viết: Đạt được thế là nhờ quan sát và đo đạc tạo ra các lịch: lịch tuần trăng, lịch thời tiết, lịch âm dương… tuy những thành quả ấy tỏ ra trí tuệ nhân loại đã đạt mức cao về những khoa trừu tượng đo đạc và toán học nhưng người vẫn coi vũ trụ là đối tượng không phương sách liên quan ngoài sự tôn vũ trụ là thế giới thiên thần… thậm chí đã đưa đến ý thức rằng mỗi ngôi sáng trên trời là một thiên thần… rồi tin vào tiền định, tin các phép đoán số mệnh và nghĩ rằng mỗi khía cạnh số mệnh đều có những sao tuy rằng nhân tạo chi phối. Jay M.Pasachoff giáo sư thiên văn, giám đốc đài thiên văn Hopkins, thành viên trong ban hoạch định chương trình giảng dạy Đại học ở Mỹ, trong bài hành trình vào vũ trụ có mục khoa học và khoa học giả hiệu ông đã phân tích cái gọi là khoa học giả hiệu mà chủ yếu là chiêm tinh. Trong bài có mấy ý kiến đáng để ý như sau: Chiêm tinh khoa học giả hiệu không liên quan gì với thiên văn trừ một thời kỳ lịch sử xa xưa, do đó nó không có chỗ đứng trong khoa học và không hề có một vị trí trong giáo trình thiên văn học. Sau khi phân tích những điều tiên đoán của chiêm tinh bằng các tri thức Thiên văn, kiên thức khao học và phương pháp khoa học, ông hoàn toàn phủ nhận chiêm tinh… Bằng các phương pháp nghiên cứu khảo sát cho thấy sự mê tín đã làm thui chột sự tiến bộ về khoa học và kỹ thuật của các dân tộc. Những lực trong tự nhiên đã được biết hoàn toàn không đủ để xét về cá tính hay ảnh hưởng đến sự kiện hàng ngày trên Trái đất. Cuối cùng ông kết luận chiêm tinh hoạt động không có khảo nghiệm khoa học và do đó không phải là một khoa học, hơn nữa nó chẳng làm nên trò trống gì cả.
Phạm Viết Trinh-Trí Thức Trẻ – số 42 – tháng 12 – 1998.

Nobel cho đồng cha đẻ của Viagra

Năm 98, một lần nữa người Mỹ lại đăng quang giải thưởng Nobel trong lĩnh vực y học và sinh lý học. Ba nhà dược học Rober F Furchgott, Louis J Ignarro và Frdi Murad đã giành được nó nhờ khám phá ra vai trò của Oxit Nitoric trong quá trình xuất hiện bệnh tim mạch. Yếu tố đã được áp dụng để sản xuất các thuốc điều trị bệnh tim cũng như thuốc làm giãn mạch, thuốc chống bất lực trong đó có Viagra. Việc trao giải thưởng có uy tín lớn cho công trình trên được dư luận đông đảo giới khoa học thế giới tán đồng bởi lẽ việc khám phá ra Oxit Nitoric là một trong những công trình quan trọng nhất đạt được trong thời gian qua. Trong cơ thể sống, Oxit Nitoric đóng vai trò quan trọng và giống như Prostaxiline hợp chất mà nhờ sự phát hiện ra nó, giáo sư John Vane đã được trao giải thưởng Nobel năm 1982.
Cứu cánh cho tim và chứng bất lực. Prostaxikline và Oxit Nitoric cộng tác với nhau trong nỗ lực chống hiện tượng đông máu và bảo vệ cơ thể trước nguy cơ bệnh xơ vữa thành mạch. Chúng cũng loại trừ hiện tượng co thắt cơ thủ phạm chính của hiện tượng nhồi máu cơ tim và cao huyết áp. Những biệt dược có oxit nito tác dụng mở rộng, làm thông thoán mạch máu. Năm 1980, giáo sư Furchgott khẳng định rằng, thành mạch tự giãn ra dưới tác động của hợp chất do tế bào của nó tiết ra. Ignarro, người cùng cộng tác với ông đã phát hiện, thời gian ngắn sau đó rằng, hợp chất ấy chính là oxit nitoric. Chúng cải thiện quá trình lưu thông máu, cả trên tuyến cung cấp cho tim cũng như toàn bộ hệ thống mạch máu ở các bộ phận khác thí dụ như bộ máy sinh dục khả năng đã được áp dụng trong điều trị chứng bất lực trong phái mày râu. Điều trớ trêu là, hợp chất đóng vai trò một trong những thủ phạm chính làm ô nhiễm bầu khí quyển đồng thời đảm trách vai trò đặc biệt quan trọng đối với cơ thể – Ủy ban giải thưởng Nobel khẳng định trong quyết định trao giải. Oxit Nitoric cũng là nguyên tố chuyển giao tín hiệu trong hệ thần kinh, là vũ khí trong cuộc chiến chống nhiễm bệnh và thiết bị điều chỉnh huyết áp. Hiện tại các nhà bác học đang nghiên cứu khả năng sử dụng oxit nitoric vào nỗ lực ngăn ngừa quá trình phát triển của ung thư.
Hợp chất đa năng
Với việc xác định vai trò nguyên tố chuyển giao tín hiệu trong hệ thần kinh của oxit nitoric các nhà khoa học đồng thời phát hiện ra hệ chuyển giao tín hiệu mới trong các cơ thể sinh học. Tín hiệu được tạo ra trong một tế bào, tiếp theo sẽ được nhào nặn trong những tế bào khác, mà tín hiệu truyền đến. giáo sư Furchgott và Iganarro lần đầu tiên thông báo về hiện tượng kỳ lạ trên tại một cuộc họp báo tổ chức tháng 6 năm 1986. Khi ấy đó là phát minh đầu tiên về một chất khí, một hợp chất hóa học đơn giản như thế có thể hoạt động cơ thể như một nguyên tố chuyển giao tín hiệu. Kết quả dễ thấy nhất và nổi tiếng nhất phát minh của giáo sư Furchgott, Iganarro và Murad là tạo ra Viagra loại chống hội chứng bất lực đầu tiên có hiệu quả khả dĩ. Công dụng của thuốc dựa trên cơ thể tăng cường sự tác động trở lại của oxit nitoric đối với hệ thống mao mạch của cơ quan sinh dục. Nhưng đó không phải tất cả phương tiện tác động lên cơ phẳng của hệ mao mạch chắc chắn sẽ được ứng dụng rất nhiều trong dược học. Hiện thời còn quá sớm để xác định những dự báo chính xác, song chắc chắn đó là phát minh rất quan trọng.
Nitroglixerin dành cho Nobel
Giáo sư Hans Joernvall thuộc Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điện lưu ý rằng, những nghiên cứu do các tác giả giải thưởng Nobel y học và sinh lý học thực hiện mở ra khả năng điều chế cả thế hệ thuốc chữa bệnh mới, ngoài Viagra. Điều thú vị là, trong chừng mực nhất định, những công trình đó có mối liên hệ với sự nghiệp của chính Nobel. Cuối đời nhà phát minh và nhà công nghiệp nổi tiếng Thụy Điển từng được ông bác sĩ riêng khuyên dùng Nitroglixerin một trong các thành phần tạo ra chất nổ do Nobel phát minh, chúng ta mới biết được rằng Nitroglixerin giải phóng ra oxit nitoric giáo sư Hans Joervall khẳng định. Thoạt đầu giáo sư Murad nhận ra mối liên hệ trên vào năm 1977, khi ông làm việc tại trường đại tổng hợp Virginia. Năm 1980, giáo sư Furchgott khẳng định rằng, thành mạch tự giãn ra dưới tác động của hợp chất do tế bào của nó tiết ra. Ignarro, người cùng cộng tác với ông đã phát hiện, thời gian ngắn sau đó rằng, hợp chất ấy chính là oxit nitoric. Phát minh được coi là một trong những thành tựu vĩ đại nhất thập kỷ qua đã xuất hiện như thế. Tác giả chính phát minh oxit nitoric là giáo sư Robert Furchgott 82 tuổi thuộc Đại học Tổng hợp bang New York. Hai nhà nghiên cứu còn lại giáo sư Louis Ignarro thuộc đại học Tổng hợp California ở Los Angeles 57 tuổi và Ferid Murad 62 tuổi thuộc Học viện Y khoa ở Houston mô tả chi tiết vai trò và hoạt động của nó trong cơ thể. Cả ba (xem ảnh trong bài) đã mở ra kỷ nguyên nghiên cứu rộng lớn cho giới khoa học trên toàn trái đất (Theo Nit số 24 năm 1998).
Trần Văn Đôn-Trí Thức Trẻ – số 42 – tháng 12 – 1998.