Monthly Archives: March 2016

Thiên táng – địa táng – hỏa táng – thủy táng… cách nào tốt nhất – Phần 2

Để có sự nhận biết chính xác về khái niệm vật chất thuộc phạm trù khoa học ta hãy hình dung xem chu trình nước bốc hơi rồi lại ngưng tụ thành nước thì trong quá trình nước ở thể hơi ta đâu có thấy nhưng nó vẫn tồn tại, bởi nếu không tồn tại thì sao có thể hình thành mây để rồi lại tái tạo thành nước? Suy ngẫm về chu trình sinh – tử trong thuyết luân hồi ta thấy dường như có chỗ tương đồng với thuyết duy vật bởi cũng cho rằng vật chất không mất đi mà nó chỉ chuyển trạng thái từ hữu hình sang siêu hình mà thôi. Thế giới siêu hình của vật chất luôn là đối tượng hấp dẫn các nhà khoa học sự khát khao khám phá với những bài toán đố không dễ gì giải được. Gần đây các nhà khoa học có uy tín trên thế giới đã chứng minh và khẳng định được một điều quan trọng điều mà dẫu không nghìn năm về trước triết học phương Đông đã thừa nhận nó rồi, như thuyết luân hồi là một minh chứng: Kết cấu sinh học trong cơ thể con người vẫn tồn tại khi con người đã chết và ngay cả trong trường hợp xử lý người chết bằng phương cách hỏa thiêu đi chăng nữa kết cấu của nó vẫn sống mãi với thời gian. Trong tìm hiểu và nghiên cứu khoa học nhất là trong lĩnh vực khoa học huyền bí cần luôn đặt ra những vấn đề để hoài nghi tất cả – Tự bạch của Mác mới có cơ may tìm ra chân lý, và khi đối tượng lại ở trạng thái vật chất siêu hình thì còn phải cần đến sự trợ giúp của trí tượng tượng phong phú nữa. Vậy nên nếu ta hiểu vật chất theo kiểu bánh mì thì chết là hết, còn như hiểu vật chất theo nghĩa vật lý thì chết đâu phải là đã hết. Nhưng thác về là về đâu? Về với đất hay bay lên trời? Hay là một chốn đôi nơi? Mới đây nhà vật lý thiên văn lỗi lạc X. Hóc kinh đã chứng minh rằng chúng ta có khả năng đi ngược chiều thời gian tìm về quá khứ và có thể gặp lại tổ tiên chúng ta đang chu du ở đâu đó trong vũ trụ xa xăm. Khả năng đi ngược chiều thời gian thoạt xem ta có cảm giác như là hoang tưởng, thế nhưng nó ngày càng được nhiều người công nhận kể cả các nhà khoa học danh tiếng và điều đó cũng nói lên tầm mức táo bạo của tư duy khoa học hiện đại đã thoát ra khỏi những khuôn sao cũ, mở rộng đường cho những khám phá khoa học, làm nên những kỳ tích trong tương lai. Vậy nên nếu ta công nhận sự chứng minh đó thì có thể suy luận con người sau khi chết ắt sẽ về trời hòa vào vũ trụ bao la là cõi giới, cuối cùng vĩnh cửu, và nếu như vậy thì mọi mối liên hệ cũng như ảnh hưởng của người chết đối với người sống sẽ không thể có trừ khi nào luận thuyết của nhà bác học X. Hóc – kinh thành hiện thực cho phép ta có thể gặp lại tổ tiên của mình. Thế nhưng thực tế lại không hẳn như vậy, bởi ta thấy mối liên hệ cũng như sự ảnh hưởng của người chết đối với người sống vẫn còn tồn tại, nó biểu hiện trong thế giới tâm linh, trong sự giao cảm và đặc biệt là trong những hiện tượng đầu thai tuy hiếm nhưng có thực ở Việt Nam, hiện tượng đầu thai thường hay gặp ở những vùng đất thuộc các tỉnh phía Nam. Trước năm 1975, có một số hiện tượng đầu thai gây dư luận xôn xao và đã được báo chí trong Nam thời đó đăng tin và ảnh khá chi tiết về người thực việc thực tại địa phương xảy ra câu chuyện đầu thai kỳ lạ mà nguyên nhân bản chất của hiện tượng chưa thể lý giải được. Vận dụng lý thuyết về gen di truyền của Menden Móc găng vào phân tích hai hiện tượng thực tế dưới đây sẽ giúp ta hiểu rõ về cơ chế hoạt động của cấu trúc sinh học được gọi là phách, nhân mối tạo sinh ra những hiện tượng kỳ bí: Trong những cuộc đi tìm mộ, các nhà thấu thị đã cho thấy một điều là nếu không, có thân nhân đi cùng thì người chết chỉ nằm im lìm bất động nếu còn có nhất là quan hệ mẹ – con thì người chết đang yên nghỉ như chợt bừng tỉnh thoát ra khỏi huyệt mộ và tiến về phía có người thân, thậm chí biểu lộ cả tình cảm trên nét mặt.
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Giữa biển cả mênh mông tìm đâu ra nước uống

Người ta biết rằng trong mỗi lít nước biển chứa đến 35 gam muối. Với nồng độ này thì con người và rất nhiều loài động vật khác sẽ không sao uống nước biển được. Ta thử tính trung bình mỗi ngày có một người cần khoảng 3 lít nước. Nếu người đó uống nước biển thì trong một ngày cơ thể sẽ nhận vào khoảng 100 gam muối. Nếu lượng muối này cùng lúc thấm vào máu thì nó sẽ gây ra những hậu quả thật tai hại. Thế nhưng tại sao động vật biển vẫn có thể sống được? Chúng tìm thấy nước ngọt ở đâu? Có một điều lạ là nồng độ muối trong máu và những tổ chức lỏng khác của cơ thể cá lại rất thấp. Điều này khiến cho rất nhiều người phải ngạc nhiên. Các nhà khoa học đã tìm thấy những cơ quan chức năng lọc muối trên cơ thể cá. Các bộ phận này khác xa với thận. Chúng gồm rất nhiều tế bào có thể giữ lại muối hòa tan trong máu và thải muối ra khỏi cơ thể cùng với chất nhầy. Các cơ quan này nằm ngay ở mang, chúng giữ nhiệm vụ hết sức quan trọng. Biết bao nhiêu người đã phải chết đói và chết khát trên biển khi tàu của họ bị đắm. Nhưng một thầy thuốc người Pháp tên là A. Bombard đã tiến hành một cuộc thí nghiệm táo bạo để chứng minh rằng con người có thể sống trên biển. Ông đã một mình lên một chiếc thuyền bằng cao su đi từ châu u băng qua đại tây dương để đến châu Mỹ. Trong suốt cả chuyến hành trình ông tự mình bắt các và những động vật không xương sống ở biển để ăn lấy sức và chỉ uống thứ chất lỏng ép ra được từ cơ thể cá. Bombard đã phải mất 65 ngày mới có thể đến được châu Mỹ. Tuy sức khỏe của ông bị giảm sút nhưng ông đã thành công khi chứng minh rằng con người vẫn có thể sống được trên biển. Còn các loài chim biển thì sao? Chúng cũng không dễ dàng gì tìm thấy nước ngọt. Chim Hải u vẫn có thể sống được dù ở rất xa bờ. Nhưng ngay cả những loài chim ở gần bờ biển như chim cốc, chim uria, mòng biển cũng chẳng bao giờ dùng đến nước ngọt. Người ta cho rằng có lẽ chúng cũng lấy nước từ cơ thể cá. Nhưng sự thật là là chúng có thể uống cả nước biển và thậm chí là nếu không uống nước mặn chúng sẽ không sống nổi. Trước đây ở nhiều Sở thú người ta không soa nuôi được những loài chim này. Có người cho rằng có lẽ chúng không sống được trong cảnh giam cầm, chúng chỉ sống được giữa biển trời mênh mông. Nhưng thật ra những con chim này không sống nổi vì chúng không được cho ăn đủ lượng muối cần thiết. Người ta đã phát hiện ra rằng các loài chim và bò sát biển có những bộ phận lọc muối thật tuyệt vời. Ở loài chim này thì chúng nằm ở bờ trên của hốc mắt. Ông bài tiết sẽ dẫn chất lỏng có muối xuống hốc mũi và đọng thành những giọt trong suốt ở chóp mỏ. Nồng độ natri trong chất lỏng này cao hơn gấp 5 lần nồng độ trong máu và gấp 2 đến 3 lần nồng độ trong nước biển. Cứ khoảng 10 hay 12 phút sau khi một con chim biển ăn mồi thì mũi của nó sẽ rơi ra những giọt nước lạnh trong suốt. Người ta cứ ngỡ rằng chúng đang bị cảm lạnh! Ở những loài bò sát biển như rùa, rắn, thằn lằn, thì ống bài tiết muối lại nằm ngay trong hốc mắt. Trước đây, người ta nghĩ rằng cá sấu khóc sau khi đã nhai ngấu nghiến con mồi. Nhưng thật ra đó chỉ là cách để nó thải bớt lượng muối dư thừa trong cơ thể. Loài rùa xanh quanh năm bơi lang thang khắp nơi ở các vùng biển ấm áp nhưng rồi vào một buổi tối chúng bò lên bãi cát đẻ trứng và chôn trứng ở đấy. Trên đường trở lại biển chúng khóc nức nở, để lại rất nhiều giọt nước mắt trên kỳ lạ này. Nhưng giờ đây điều này đã không còn được xem là khác thường nữa vì người ta đã biết được rằng rùa xanh phải thải bớt rất nhiều muối từ hốc mắt của chúng.
Trần Hữu Quốc Huy – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Thiên táng – địa táng – hỏa táng – thủy táng… cách nào tốt nhất – Phần 1

Triết lý của người xưa về sự sống và cái chết của con người là một vòng tuần hoàn luân hồi chuyển kiếp. Trong cái chu trình sinh tử đó người xưa quan niệm rằng đời người trên cõi dương gian ngắn ngủi chỉ là sống gửi – ký, đến khi chết đi rồi mới thực là về chốn cõi nghìn thu. Bởi có niềm tin như vậy nên người xưa quan tâm nhiều đến cái chết đôi khi còn hơn cả sự sống.
Sinh ký tử quy, duy tâm hay duy vật?
Thời nay hẳn không có mấy ai lại không tin rằng sống gửi thác về là một thuyết duy tâm thuộc phạm trù tâm linh. Song hãy khoan về một sự khẳng định, bởi suy cho cùng thì ranh giới giữa duy tâm và duy vật cũng chỉ có ý nghĩa tương đối monh manh vì tư duy và nhận thức của con người đâu phải là bất biến như khi đã khám phá ra nguyên nhân bản chất của một hiện tượng bí ẩn nào đó thì duy tâm ắt sẽ trở thành duy vật, chẳng hạn như khi đã biết hiện tượng ma trơi chỉ là do chất phốt pho phát sáng từ mồ mả bốc lên trong đêm tối tất sẽ làm thay đổi quan niệm từ chỗ tin rằng có ma đến chỗ không tin… Trong tìm hiểu và nghiên cứu khoa học nhất là trong lĩnh vực khoa học huyền bí cần luôn đặt ra những vấn đề để hoài nghi tất cả – Tự bạch của Mác mới có cơ may tìm ra chân lý, và khi đối tượng lại ở trạng thái vật chất siêu hình thì còn phải cần đến sự trợ giúp của trí tượng tượng phong phú nữa. Thuyết duy vật khẳng định rằng vật chất có trước, tinh thần có sau, nói một cách khác thì vật chất đẻ ra tinh thần vậy nên suy cho cùng nếu không có vật cất thì cũng không có tinh thần và dĩ nhiên là thế giới tâm linh không tồn tại. Vật chất quyết định tinh thần, cơ thể con người là một kết cấu vật chất, vậy nên muốn lý giải về những vấn đề liên quan đến sự sống và cái chết ta không thể không bắt đầu từ tiền đề vật chất. Duy vật biện chứng đã định nghĩa về vật chất như thế nào? Rất giản đơn nhưng rõ ràng: Vật chất là cái không bao giờ mất đi, nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác. Để hiểu rõ tiền đề ta hãy xem trong lô gich hình thức thú vị đối với định nghĩa về vật chất của thuyết duy vật nhưng nó cũng làm sáng rõ hơn về một chân lý khoa học vốn rất khó nhận biết bởi tính trưu tượng của nó, đó là sự phản biện bằng một tam thức luận sau:
Vật chất là cái tồn tại vĩnh viên, ổ bánh mì là vật chất, vậy bánh mì tồn tại vĩnh viên. Cấu trúc của tam thức luận trên xem ra rất lô gichs, vậy đúng hay sai là ở chỗ nào?
Bánh mì thuộc khái niệm vật chất thông thường tồn tại ở dạng hữu hình mà ta có thể thấy bằng mắt thường còn vật chất trong định nghĩa của duy vật biện chứng là thuộc khái niệm vật lý bao hàm cả khi nó ở dạng siêu hình mắt ta không thể nhìn thấy, thậm chí với kính hiển vi có độ phóng đại tới hàng tỷ lần cũng không thấy được bởi nó ở dạng siêu vi hạt. Ngày nay, nếu ta vận dụng thuyết m dương được xây dựng dựa vào lý thuyết kinh dịch, kết hợp với lý thuyết về gen – di truyền cũng như xét đến hoàn cảnh lịch sử ở thời kỳ nguyên khai hình thành nên lục tỉnh của các miền đất mới thuộc Nam Bộ xa xưa ắt có thể vén mở tấm màn bí mật. Nếu giải thích rõ được hiện tượng đầu thai ắt ta có thể biết được do đâu mà có thuyết luân hồi và vì sao người xưa lại tin vào thuyết đó cũng như sự đúng hay sai của nó ở chỗ nào.
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Nên hay không nên uống cà phê

Đã từ lâu cà phê trở thành một loại nước giải khát phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Nhưng cũng đã từ lâu người ta thường gán cho nó nhiều mặt tích cực tỉnh táo, thức khuya, kích thích tim mạch… và cũng khá nhiều tội lỗi tăng huyết áp, gây ung thư, gây nôn mửa, táo bón, hại tim… vậy đâu là đúng là sai? Trước hết ta phải hiểu là thành phần của cà phê khá phức tạp: đến nay người ta mới xác định được 542 trong số hơn 2 nghìn hợp chất của cà phê và còn đang tiếp tục tranh luận về những hoạt động tính dược lý của nó. Các tài liệu nghiên cứu về cà phê trong mối quan hệ với sức khỏe của con người còn rất hiếm và sơ sài.
Con người không bình đẳng trước hậu quả của cà phê
Trong cà phê, chất cafeine chiếm vai trò chủ yếu: Nó được chuyển hóa ở gan và thoái hóa trong thời gian từ 4 đến 6 giờ, nhanh hơn đối với người nghiện thuốc lá và chậm hơn đối với phụ nữ mang thai, những người đang sử dụng một số thuốc như Quinolon, Cimetindin… ảnh hưởng tới não trong vòng 5 phút và tập trung trong máu sau 1 giờ.
Cà phê và huyết áp
Nhà khoa học Yack James, ngày 23 tháng giêng vừa qua, vừa viết trên tạp chí khoa học thế giới The Lancet về tác dụng làm co mạch máu của cafeine nhất là vào lúc sáng sớm, khi đói… và có thể kéo dài vài giờ. Một người uống từ 3 đến 4 ly cà phê trong một ngày có thể làm tăng huyết áp lên một chút từ 2 đến 4 mm thủy ngân trong huyết áp kế ông kết luận: giảm chất cafeine trong ca phê và một số loại nước ngọt, trà đặc có thể giảm nguy cơ gây bệnh tim mạch từ 9d đến 14%. Trong khi đó trung tâm thông tin khoa học về cà phê ở châu u lại đánh giá việc tăng huyết áp do uống cà phê là không đáng kể và không ảnh hưởng gì đối với người nghiện cà phê, trừ trường hợp những người uống cà phê lại nghiện thuốc lá. Thủ phạm của bệnh tim mạch lại là thuốc lá.
Cà phê và Cholesterol
Từ năm 1963, đã có dư luận cà phê làm tăng tỷ lệ Cholesterol và bệnh đau tim, chủ yếu là ở các nước thuộc bán đảo Scandinavie. Một đoàn nghiên cứu thuộc trường đại học Wageinmgen – Hà Lan đã kết luận: Ở Bắc u do cách pha chế đun sôi để lắng rồi uống nên chất cặn Diterpen trong cà phê mới làm tăng tỷ lệ của Cholesterol xấu Low density Lipoprotein. Điều này đã được xác định, năm 1994, trong thành phần dàn của hạt cà phê rang. Nếu ta pha qua màng lọc – phin thì những chất đó nằm lại trong bình pha. Còn ảnh hưởng với tim thì kết luận trong một công trình nghiên cứ của Mỹ – Boston trong 10 năm đã kết luận tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch trong giới nghiện cà phê tương đương với người không uống cà phê. Tuy nhiên người ta cũng khuyến cáo bệnh nhân tim mạch và phụ nữ có mang thai hoặc cho con bú nên hạn chế là 200 mg cafein cho một ngày 1 ly.
Cà phê và ung thư
Có người cho rằng cà phê có thể gây ung thư buồng trứng hoặc tụy. Nhưng một số công trình nghiên cứu lại cho thấy cà phê làm giảm Oestrogene trong máu của phụ nữ, do đó hạ thấp nguy cơ ung thư vú. Nó lại có khả năng oxy hóa mạnh hơn vitamin E, cung cấp là 20% nhu cầu vitamin DP hàng ngày.
Cà phê và giấc ngủ
Với bệnh nhân mắc chứng ngủ quá nhiều, bác sĩ thường cho uống cafein. Trước khi đi ngủ mà uống café thì giấc ngủ sẽ chậm lại và ngắn hơn. Người uống nhiều cà phê dễ mắc hội chứng: hồi hộp, hay cáu gắt, lo âu, đi tiểu nhiều, hay quên… Tóm lại người ta còn rất nhiều ý kiến về cà phê như gây nên nôn mửa, làm gầy người, đẻ con có màu da đen… tuy nhiên có điều chắc chắn là không ai bị chết vì uống cà phê quá nhiều: từ 5 gam đến 10 gam cà phê in một lần tương đương với 50 đến 100 tách cà phê một lúc. Những ý kiến khác đến nay vẫn chưa có kết luận cà phê vẫn còn là một bí mật với con người.
Hạn chế ngộ đọc khi ăn rau
Rau là món ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Nhưng hiện nay do người trồng rau dùng thuốc sâu bừa bãi đã gây không ít trường hợp ngộ độc khi ăn. Để phòng ngộ độc, chúng ta nên áp dụng một số phương pháp rửa sạch và nấu chín tùy từng loại rau quả dưới đây để giảm bớt phần nào các chất độc có trong rau quả:
Dùng nước sạch, vắt thêm vài giọt chanh tươi để rửa rau. Ngâm rau trong hỗn hợp nước và giấm trong vòng 15 phút. Làm như vậy sẽ giảm được 60 đến 80% hàm lượng hóa chất độc. Khi vo gạo, nên chắt lấy nước này dùng rửa rau. Các loại rau cải có nhiều lá, cần nhặt bỏ những là bên ngoài rồi đem ngâm trong nước sạch khoảng 2 phút. Xong rửa lại vài lần với nước sạch. Làm như vậy sẽ rửa sạch từ 55 đến 60% các thuốc trừ sâu ra khỏi rau cải. Rửa rau bằng dung dịch thuốc tím pha vài giọt thuốc tím trong 4 lít nước. Đem ngâm rau trong nước sạch khoảng 15 phút, sau đó rửa lại nhiều lần với nước sạch. Cách này sẽ loại bỏ được 17 đến 35% hóa chất độc hại có trong rau. Luộc rau trong nước nóng, giảm bớt được 50% thành phần độc hại. Rửa rau trong dung dịch gồm 20 lít nước ấm pha với một muỗng canh thuốc muối. Ngâm như vậy khoảng 15 phút sẽ làm mất hóa chất độc từ 90 đến 95%. Để tránh tác hại của các loại thuốc trừ sâu mạnh, tốt nhấ là nên bỏ phần lá phía ngoài đối với một số loại rau như cải, xà lách bắp cải… Rửa sau trong nước muối. Cách pha dùng hai muỗng muối ăn pha với 4 lít nước sạch. Rửa như vậy vừa làm sạch rau mà còn trừ được trứng giun, sán. Ngâm rau bằng dung dịch chlorine theo tỷ lệ nửa muỗng bột chlorine pha với 20 lít nước. Và ngâm rau trong dung dịch này từ 15 đến 30 phút.
B. Tân – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Phòng trị u sơ tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt là một tiếng nội tiết chỉ có ở nam giới trong cơ thể của phụ nữ không có tuyến này. Đó là một tuyến nhỏ, bao gồm phần tổ chức tuyến và phần tổ chức cơ, Tuyến tiền liệt chỉ to như một quả hạt dẻ, nặng khoảng 20 gam, nằm ở dưới bàng quang, bao bọc xung quanh niệu đạo gốc. Trực tràng cũng ở ngay sau Tuyến tiền liệt, cho nên có thể qua trực tràng mà thăm dò kích thước bệnh lý của Tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt có thể tiết ra một chất dịch trông như sữa để góp phần tạo nên tinh dịch. Chất dịch này được tộn lẫn với tinh dịch làm cho nồng độ của tinh dịch giảm bớt tạo điều kiện tốt cho các tinh trùng hoạt động. Nó là một thành phần quan trọng của tinh dịch, có chức năng cung cấp các chất dinh dưỡng và tạo điều kiện tốt cho tinh trùng hoạt động. Tuyến tiền liệt còn tạo ra Prostagladin, một chất có vai trò quan trọng trong các quá trình chuyển hóa của cơ thể. Tuyến tiền liệt là một bộ phận rất dễ gây ra các tai nạn trong cơ thể nam giới. Bước vào tuổi thành niên, Tuyến tiền liệt ở nam giới bắt đầu hoạt động mạnh. Thế nhưng, từ 45 đến 50 tuổi trở lên Tuyến tiền liệt bắt đầu suy yếu và có xu hướng tăng sản bệnh lý tạo ra các khối u, lẫn vào các tuyến cạnh niệu đạo hoặc quanh niệu đạo, gây chèn ép, khiến tiểu tiện khó khăn. Các điều tra ở nhiều nước cho thấy: từ 50 đến 60 tuổi có 30%, từ 61 đến 70 có đến 50% và từ 71 đến 80 có tới 90% người bị mắc chứng tăng sinh Tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt bị phì đại là một trong những căn bệnh gây ra nhiều đau khổ cho nam giới, đặc biệt ở những người cao tuổi. Để dự phòng chứng bệnh này, ta nên làm việc, nghỉ ngơi có điều độ, thường xuyên tập thể dục, tăng cường vận động thân thể, không ăn quá nhiều các chất chua, chất ngọt, cần ăn nhiều rau tươi và các thức ăn chứa nhiều xơ, không ngồi xe đạp hoặc xe máy quá lâu. Trong trường hợp thấy xuất hiện các triệu chứng như tiểu tiện khó khăn, đái gấp, đái sót… ta nên đến bệnh viện khám để có được một chuẩn đoán chính xác. Đối với chứng u sơ lành tính, gây tiểu tiện khó khăn trong điều kiện gia đình, có thể áp dụng một trong số phương pháp sau:
Xoa bóp vùng bụng dưới: nằm thoải mái trên giường, dùng tay phải xoa nhẹ và đều vùng bụng dưới theo chiều kim đồng hồ 120 vòng, sau đó đổi sang tay trái, xoa theo chiều ngược kim đồng hồ là 120 lần. Hàng ngày trước khi ngủ và buổi sáng thức dậy xoa như vậy một lần. Đây là phương pháp tốt nhất để dự phòng và điều trị bệnh u sơ Tuyến tiền liệt và lại còn có tác dụng giảm mỡ đối với người béo phì.
Ngâm nước nóng: dùng một cái chậu, đổ nước sôi cho ngập già nửa chậu, dùng hơi nóng bốc lên đển xông bộ phận sinh dục, khi nhiệt độ hạ xuống còn khoảng 40 độ thì ngồi vào chậu để ngâm bộ phận sinh dục, khoảng 15 đến 20 phút. Mỗi ngày xong và ngâm như vậy là 2 lần, sẽ có tác dụng tốt đối với chứng tiểu tiện khó khăn và một số chứng trạng liên quan. Nếu có điều kiện, có thể thêm bổ kết 60 gam, trạch tả 50 gam, đại hoàng 50 gam, hành cả rễ 3 đến 5 củ thì hiệu quả càng cao.
Các hình thức đắp thuốc
Dùng ngải cứu 100 gam, tiểu hồi hương là 200 gam, tất cả tẩm muối sao nóng, bọc vào miếng gạc, đắp lên rốn, ngày 2 lần, kết hợp với xoa bóp vùng bụng dưới càng tốt. Hoặc là: Dùng tỏi 1 củ to, dành dành chi tử 3 quả, hành củ 2 đến 3 nhánh, tất cả đem giã nát như hồ, đắp lên rốn và dùng băng dính cố định lại, ngày thay thuốc 2 lần. Hoặc là dùng muối hạt to khoảng 1 cân, rang nóng, bọc trong nhiều lớp vải màn, đắp lên vùng bụng dưới, ngày làm 2 lần. Chỉ cần kiên trì áp dụng một số biện pháp đơn giản nói trên, không những có thể dự phòng sự tăng sinh bệnh lý Tuyến tiền liệt mà còn có thể chữa khỏi được chứng u sơ Tuyến tiền liệt ở những giai đoạn đầu.
Thế kỷ 21 sẽ đem đến cho con người những điều kỳ diệu
Theo dự đoán của các nhà khoa học đại học Harvard và các nhà nghiên cứu Anh thì con người sẽ làm ra những điều kỳ diệu sau trong thế kỷ 21 để phục vụ chính bản thân mình.
Năm 2003 Việc dọn dẹp các khu vực bẩn thỉu được tiến hành bằng các vi khuẩn cực nhỏ là Siêu vi khuẩn.
Năm 2005: liệu pháp gen sẽ được đưa vào chữa trị một cách có hiệu quả bệnh ung thư.
Năm 2006: Việc điều khiển tự động các xe ô tô nhờ computer lắp đặt trên xe sẽ được áp dụng rộng rãi.
Năm 2007: Tất cả mọi ngôn ngữ sẽ được computer tự động dịch một cách nhanh chóng và chính xác.
Năm 2008: Computer sẽ tính toán được cơ cấu thành phần phân tử của các chất mới mà con người muốn tạo ra.
Năm 2009: Các bắp thịt và gan nhân tạo sẽ được điều khiển bằng các tín hiệu của hệ thống thần kinh.
Năm 2010: Tất cả các động cơ điện sẽ hoạt động bằng pin mặt trời.
Năm 2011: Việc tiêm chủng vắc xin phòng các bệnh ung thư phổ biến nhất sẽ được áp dụng rộng rãi.
Năm 2014: Các con tàu chạy trên đệm không khí sẽ đạt tới vận tóc là 1100 km trong một giờ.
Năm 2017: Các bộ não nhân tạo sẽ được sử dụng để đưa ra các tư tưởng, ý đồ mới.
Năm 2019: Các tàu vũ trụ sử dụng động cơ phản lực từ trường sẽ có thể bay tới các hành tinh xa hơn.
Thái Hư – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

10 Quốc gia giàu và nghèo nhất hành tinh

Về phương diện thu nhập quốc dân tính theo đầu người, Luxemburg chiếm vị trí đầu tiên bảng xếp hạng “Những quốc gia giàu nhất hành tinh” năm 1995. Đó là kết quả thống kê mới nhất vừa công bố của ngân hàng thế giới.
Thu nhập trung bình một người dân Luxemburg, trong năm 1995 lên tới 41.210 đô la Mỹ vị trí thứ hai thuộc về Thụy Sĩ với con số là 40.630 đô la Mỹ. Với 39.640 đô la Mỹ, Nhật Bản được xếp vị trí thứ ba. Như vậy mức chênh lệch giữa ba quốc gia giàu nhất rút ngắn đáng kể, so với kết quả xếp hạng những năm trước. Na uy vượt lên Đan Mạch. Cộng hòa Liên bang Đức giành vị trí thứ 6, đẩy Mỹ xuống hàng thứ 7. Singapore và Pháp thì trái lại, hai quốc gia này đẩy Ai – len và Thủy Điện tụt xuống tốp 20. So với năm 1994, không quốc gia nào trong nhóm 10 vị trí đầu tiên bị sa sút thu nhập quốc dân đầu người. Trái lại, trong 10 quốc gia nghèo nhất, hiện tượng này xảy ra với hai nước Ê ti ô pi và Sát. Điều đáng lưu ý là về vị trí địa lý tự nhiên trong 10 quốc gia giàu nhất, có 8 thuộc châu u, 1 châu Mỹ và 1 thuộc nhóm 4 con rồng châu Á. Và ngược lại, trong 10 quốc gia nghèo nhất, châu Phi chiếm tới 9 và châu Á chỉ có 1 Nê Pan. 63 quốc gia nghèo nhất thế giới với dân số 3,18 tỷ người chỉ có thu nhập đầu người bình quân là 430 đô la Mỹ. Trái lại, nhóm 51 quốc gia giàu nhất tổng số dân là 903 triệu song lại có thu nhập trung bình cao hơn 58 lần tới 24.930 đô la Mỹ. Mức chênh lệch về sự giàu có sẽ rút ngắn chút ít, nếu so sánh sức mua tuyệt đối của 1 đô la Mỹ. Thí dụ, giá trị này ở Mô dăm bích, quốc gia đứng đầu bảng nghèo nhất lớn hơn ở Mỹ tới 10 lần và ở Nê pan 6 lần. Trái lại giá cả đắt đỏ ở Thụy Sĩ làm cho sức mua của 1 đô la Mỹ thực tế chỉ còn trị giá 64 xen năm 1994 là 66 xen. Sức mua của 1 đô la Mỹ ở Nhật còn thấp hơn, nơi chỉ có 56 xen. Cũng theo số liệu của Ngân hàng thế giới, chúng ta còn được thông báo về nhịp độ phát triển trung bình về kinh tế của số lớn quốc gia trong 10 năm qua. Nhịp độ chậm nhất thuộc về Thụy Sĩ là 0,2% năm, tiếp theo là Luxemburg: 1% cho 1 năm, còn Mỹ là 1,4%, Nhật Bản là 2,9% và Singapore là 6,2%. Chỉ số tăng trưởng cao nhất trong cùng thời gian thuộc về Thái Lan là 8,4%, Trung Quốc là 8%, Hàn Quốc là 7,6% và Chi lê là 6,1%. Trong các quốc gia nghèo nhất, chỉ có 5 ghi nhận dấu hiệu tăng trưởng thu nhập quốc dân Mô dâm bích là 3,6%, Sierra Leone là 3,4%, Nê pan là 2,4%, Ta – za ni a là 0,9% và Sát là 0,5%.
Cắt cơn nấc bằng bắt mạch
Đang ăn cơm mà bị nấc rất khó chịu, nhất là đó là cơm tiệc, cơm khách. Có một cách cắt cơn nấc rất đơn giản. Dùng ngón đeo nhẫn của tay phải đặt lên vị trí mạch đập ở cổ tay phải đặt lên vị trí mạch đập ở cổ tay trái, rồi đặt cả ngón giữa và ngón trỏ lên. Sau đó di động sang trái, sang phải cho tới khi cả ba ngón tay đều cảm thấy mạch đập mới thôi. Lúc này hít một hơi thật sâu, rồi ngừng thở và dùng sức của ba ngón ta ấn mạnh xuống mạch, đồng thời nhịn thở cho đến lúc hết chịu nổi thì thở ra, sau đó buông các ngón tay. Nếu cơn nấc chưa ngắt, lại làm lại. Chỉ cần đặt ngón tay đúng vị trí mạch, làm một lần có thể cắt được cơn nấc.
Uống bia hòa với gừng thái thành sợi nhỏ
Ai cũng biết uống bia lợi tiểu. Nhưng đối với những người thể lực yếu thì uống bia dễ bị đi lỏng, người máu lạnh hoặc thận yếu, sau khi uống bia, chính do tác dụng lợi tiểu mà thể lực tiêu hao nhiều. Những người uống bia xong, thấy người mỏi mệt, chứng tỏ thể chất không hợp với bia. Muốn khắc phục tình trạng này, khi uống bia nên cho thêm mấy sợi gừng thái thành sợi nhỏ vào bia, sẽ ấm người, khí huyết lưu thông, lợi tiểu, chống tiêu hao sức. Trong những ngày hè nóng bức, uống bia hòa với gừng quả thật là sảng khoái.
Vĩnh Thu – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.

Nhàn đàm về phong thủy – Phần 2

Lớn đến mức mà còn rất nhiều lỗ hổng chưa được bồi đắp hoặc đã bồi đắp hàng ngàn năm nay mà vẫn như ném viên sỏi xuống hồ nước rộng. Để nhận biết thuật phong thủy phải dày công nghiền ngẫm. Để hành nghề phong thủy lại khó khăn hơn chứ không phải như man sư tự nhận cho mình được có cái tài riêng biệt theo kiểu tâm linh mà vụ lợi. Phong thủy là khoa học thực nghiệm cho nên biết trong sách chưa đủ mà phải biết ngoài đồng, phải am tường thực địa. Cụ Tảo Ao đã viết: mấy lời để truyền hậu thế, ai học địa lý theo học Tả Ao, một là hay học càng cao, hai là cố ý cứ lời phương ngôn, ba là học thuộc dã đàm, bốn là mở sách la bàn cho thông, chẳng qua ra đến ngoài đồng, tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường… Cụ Tả Ao đã đi vào cái cụ thể trong phong thủy. Một số sách viết hay dịch gần đây cũng đi vào cái cụ thể này. Cụ thể là cái sờ được, thấy được của phong thủy là cái hành trong cái tri. Như đã đề xuất, phong thủy là dạng khoa học thực nghiệm từ cái hành mà tìm ra những nguyên tắc để tri. Từ cái tri soi rọi cho cái hành. Quá trình nghiên cứu phong thủy là quá trình tri hành đan xen lẫn lộn phối hợp lẫn nhau. Nếu xếp phong thủy là một đặc trưng văn hóa nghệ thuật thì phong thủy cũng có những lý luận cơ bản, cũng có những tri thức cơ sở. Như nguồn gốc của nhiều văn hóa Trung Hoa thì lý luận cơ bản của phong thủy vẫn là kinh Dịch. Tri thức cơ sở của phong thủy vẫn là thuyết âm dương, ngũ hành. Lấy cái thấy được của tồn tại khách quan, đem nền tảng kiến thức của kinh dịch, phương pháp của ngũ hành để xây dựng luận lý của phong thủy. Đấy là phương pháp luận cơ bản của phong thủy. Cái khổng lồ về kiến thức của kinh dịch, cái biến hóa khôn cùng của âm dương ngũ hành đã làm cho con người nghiên cứu về phong thủy trở nên thầy bói xem voi, càng nghiên cứu càng thấy mình nhỏ bé, càng tìm hiểu càng thấy kiến thức của mình chẳng đáng bao nhiêu, càng suy ngẫm càng thì thấy mình càng phiến diện. Đấy là những cảm nhận đầu tiên của người đi tìm thuật phong thủy; phong thủy bao hàm âm dương học, địa lý học và thuật số. m dương học nghiên cứu về thiên văn, tinh tượng. m dương học cũng luận về địa lý là nơi con người sinh trưởng và nhìn thấy trời. Phương pháp luận của âm dương học là âm dương ngũ hành. m dương học cũng chỉ được công nhận chính thức từ triều Nguyên, Chí Nguyên năm 28, mà đối tượng quan sát là sự vận hành của vũ trụ, dự báo thời tiết, đoán lành dữ của hiện tượng thiên văn, xem đất làm nhà, đặt mồ mã, xem ngày, định lịch…Đến thời Minh, từ Hồng Vũ, năm Bính Dần, ngày 5 tháng 5 vua Hồng Vũ cho vời Lý Bá Truyền đến luận đàm về phong thủy. Lý Bá Truyền dâng Hồng Vũ cấm thư, từ đấy triều đình chính thức đặt chức quan về âm dương học. Mỗi phủ châu huyện có một chức quan chuyên lo về giảng dạy và quản lý về các công việc âm dương học. Phong thủy nghĩa hẹp có thể chỉ coi là những tri thức về địa hình, địa mạo, núi non, sông ngòi. Có một thời gian dài đến vài trăm năm, phong thủy ở Trung Hoa bị gom vào môn địa lý. Cũng có nhiều triều đại lại coi phong thủy như là thuật số. Phần nhiều những người làm thuật số lại là man sư nên làm ảnh hưởng đến phong thủy, làm phong thủy lu mờ một thời. Nhưng phong thủy vẫn tồn tại vì bản chất nó là một hiện tượng văn hóa. Mỗi thời đại có những thay đổi theo tiến triển khoa học công nghệ của nó. Nhưng văn hóa ghi lại đời sống tinh thần của con người của một thời, không lý gì mà đời sau lại không tìm hiểu. Đọc lại phong thủy theo một thái độ khách quan cũng là điều bổ ích. Không võ đoán, không định kiến, chưa đủ mức độ vững chắc của luận cứ thì chưa tin. Gạn đục khơi trong để tìm hiểu một khách quan đã tồn tại hàng ngàn năm là điều cực kỳ khó. Mở đầu cho loạt bài viết về phong thủy trong những số tiếp theo người viết mong được sự đồng cảm của bạn đọc, ý tại ngôn ngoại, ngoài đồng thanh để tương ứng còn xin được đồng khí tương cầu nữa.
Lê Kiều- Trí Thức Trẻ – số 22 – tháng 4 – 1997.

Nhàn đàm về phong thủy – Phần 1

Có hai khái niệm mà nhiều người hòa trộn thành một đó là phong thủy và thuật phong thủy. Phong thủy nếu duy danh định nghĩa là gió và nước. Gió và nước tạo nên khái niệm trời đất bao la. Cụ thể hơn thì phong thủy là địa thế, địa hình, địa mạo, thủy văn, phương hướng, trạng thái vi khí hậu của khu đất là đối tượng xem xét. Phong thủy là một tồn tại khách quan của một khoản nằm trên vỏ trái đất. Phong thủy là môi trường vật chất chứa đựng con người trong đó. Thuật phong thủy là những suy nghĩ, luận lý của con người và cách thích ứng cuộc sống của mình khi nằm trong cái phong thủy ấy. Như thế phong thủy là khách quan, tồn tại ngoài ý thức con người còn thuật phong thủy là sản phẩm của ý thức liên quan tới phong thủy. Đây chính là sự cảm thụ của con người về thiên nhiên quanh ta, tìm hiểu về nó mong vận dụng những luận lý ấy hay kinh nghiệm tìm được đem đến một cuộc đời cho mình và người thân của được tốt đẹp hơn. Phong thủy còn được gọi dưới cái tên khác kham dư. Kham dư có nghĩa là trời đất. Kham là trời, dư là đất. Nhận thức kiểu thuật phong thủy thì kham là thiên đạo, đạo của trời, dư là địa đạo, đạo của đất. Kham có nghĩa nữa là đột, xuyên, để chỉ phần đất nhô cao khỏi mặt bằng. Kham cũng có nghĩa là khám xét chỉ sự điều tra trên đất đai. Cũng hiểu theo thuật phong thủy thì kham dư không còn chỉ có nghĩa là trời đất, là tồn tại khách quan như trên đã dẫn mà kham dư để chỉ quỷ thần, chỉ phần hồn đặt ra nhận thức về trời đất và những xúc cảm về đất trời. Đêm trừ tịch cuối năm chẳng khác lạ nhiều với vài đêm trước đó những là đêm cuối cùng của một năm đã qua mà cũng là đêm khởi đầu của một năm mới với phong tục dân gian, với sự rung cảm trước đất trời, con người có một cảm giác thành kính lâng lâng đặc biệt mỗi người có một trình độ học vấn khác nhau, đời sống tinh thần của mỗi người khác nhau nên sự cảm nhận thiên nhiên cũng có khía cạnh khác nhau như thế phong thủy hay kham dư cùng với thế giới bên trong con người hòa quyện với nhau thành một hiện tượng văn hóa. Phải chăng thuật phong thủy là sự tính toán của con người nằm trong một môi trường thiên nhiên để chọn cho mình điều lành tránh điều dữ. Phong thủy đã thành một tập tục dân gian lưu truyền lâu đời ở nước Trung Hoa, ở nền văn hóa Trung Hoa, một loại học vấn để hoàn thành có liên quan đến con người, có phương pháp luận riêng của mình. Nhận thức đất trời mà thực chất là nhận thức thiên nhiên tùy thuộc ở mỗi người. Mỗi người là một chủ thể rất riêng, người thì tìm hiểu ở đất trời mong tìm thấy cái khóa chung để mang thực nghiệm làm cho cuộc sống khá lên. Người thì coi rằng mình là thủy tổ của những tri thức về đất trời để rồi lợi dụng mưu cầu danh lợi. Nhưng đất trời thì bao là mà sức người, trí người lại có hạn, lòng người vô tận vô cùng, tốt có xấu có, vô tư có, tham lam có, công minh có, vụ lợi có đã làm cho sự cảm nhận của đất trời, phong thủy trở thành một mớ bòng bong. Một thời gian dài thuật phong thủy bị coi là mê tín. Tuy giấy mực bàn về phong thủy không ít nhưng nó nhiều quá, phức tạp quá. Người bàn lại đứng trên cái tôi của mình, nên có cách bàn thật tường minh, không ít người làm thêm cho vấn đề đã phức tạp lại trở nên mịt mùng hơn như man thư, man ngôn. Vì thế có người cho phong thủy là học vấn, người khác cho là hệ thống đánh giá cảnh quan nhưng cũng có những thời gian dài thuật phong thủy bị cấm bàn bạc bị coi là sai trái. Một thực tế khách quan là thuật phong thủy đã tồn tại, khi tỏ, khi mờ. Chớ vì phong trào mà ào ào khen rồi cũng ào ào chê. Người viết ngay cũng lắm mà người viết xiên chẳng ít hơn. Cụ Tảo Ao xưa được coi là nhà địa lý phong thủy có tài ở nước ta đã nhận xét: kìa ai địa lý vô tông, chẳng cứ đúng phép cũng dòng vô sư.
Đúng sai mập mờ thật giả lẫn lộn, nhưng chúng ta hãy cùng nhau đọc phong thủy và thuật phong thủy theo một cách nhìn mới của phương pháp luận khoa học biện chứng, chúng ta tìm ra những khía cạnh của hiện tượng văn hóa và đồng thời cũng nhìn ra những điều nào chưa đủ căn cứ biện minh để mở rộng tầm nhìn của mình. Như thế theo cách nhìn hiện nay thì phong thủy và thuật phong thủy có những phần tồn tại khách quan được xếp vào khoa học thực nghiệm. Đó là những phần xét ảnh hưởng của phong thủy, của môi trường ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con người sống trong môi trường ấy. Cũng như vật lý học, phong thủy xác định sự việc thông qua quan sát các sự kiện và xác nhận các sự việc này thông qua quan sát tiếp. Sau khi phân loại và phân tích các sự việc này người nghiên cứu tìm kiếm những mối liên hệ nhân quả mà họ tin là đúng. Khi khái quát hóa là những giả thiết đã được kiểm định về mức chính xác và dường như đúng, phản ánh và giải thích được thực tại và do đó có giá trị dự báo cho cái gì xảy ra trong những hoàn cảnh tương tự, chúng sẽ được coi là những nguyên tắc. Thuật phong thủy giới thiệu một số nguyên tắc mà các nguyên tắc này lại phụ thuộc lẫn nhau tạo nên một mảng kiến thức lớn.
Lê Kiều- Trí Thức Trẻ – số 22 – tháng 4 – 1997.

Sức Mạnh của tình yêu – Phần 2

Nhưng phải nói thêm rằng, trường hợp này cũng đúng đối với những người tuy không theo đạo nhưng cũng có một niềm tin sâu sắc vào một điều gì đó tốt đẹp. Ví như việc tham gia vào một tổ chức như hội phụ nữ độ hợp xướng…. cũng mang lại cho bạn một kết quả tốt. Và nếu có cả một niềm tin và sống hòa nhập với cộng đồng, khả năng sống của bạn sau một cuộc phẫu thuật sẽ lớn gấp chín lần. Thậm chí, nếu bạn có một tinh thần lành mạnh và sống thân ái với mọi người, hiệu quả chữa bệnh đó còn lớn hơn việc gia nhập một cộng đồng tôn giáo. Sống hòa đồng với mọi người bè bạn, gia đình để có được sự hỗ trợ về tình cảm, để yêu và được yêu, điều đó rất có lợi cho sức khỏe. Các con số thống kê cho thấy những người kết hôn sống lâu hơn những người độc thân đã li dị hay góa bụa. Nếu càng sống xa rời cộng đồng, sức khỏe của bạn sẽ càng tồi tệ. Qua một cuộc nghiên cứu về những bệnh nhân tim mạch ở Mỹ người ta thấy rằng khả năng tử vong của những người thiếu niềm tin trong vòng 5 năm lớn gấp ba lần những người có vợ hoặc chồng hoặc bạn thân. Và cũng trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng ở trường đại học Stanford bang California, tiến sĩ David Spiegel đã chỉ ra rằng: trong số những người phụ nữ bị ung thư vú ở giai đoạn cuối, những ai đã và đang tham gia vào một tổ chức nhân đạo hoạt động hàng tuần thì có thể sống lâu gấp đôi những người không tham gia. Tiến sĩ Caryle Hirshberg cũng cho rằng việc phụ nữ biểu lộ được những tình cảm sâu sắc của họ như giận giữ, yêu thương, đam mê, có thể giúp họ khơi dậy những khả năng tiềm ẩn bên trong cơ thể họ. “Một người yêu đời có thể tự làm tăng khả năng kháng bệnh của cơ thể họ” tiến sĩ tâm lý học người Mỹ Lawrence Le Shan đã nói như vậy. Tiến sĩ David Spiegel cũng hướng dẫn các phụ nữ ở Stanford cách kết hợp phương pháp tự thôi miên và thư giãn để giúp họ có những cảm giác trôi nổi, cảm giác ấm lên và cả những rung động tình cảm có tính chất chữa bệnh. Nghe nhạc và ca hát cũng là những cách rất tốt để tạo ra những đợt sóng cảm xúc có lợi. Có một người cứ cố gắng hình dung khố u của mình biến dần đi nhưng ông ta chẳng hình dung được gì cả. Cho đến một ngày ông ta tình cờ chơi bản nhạc Overture của Tchaikovsky năm 1812 và Đùng một cái, mọi thứ đến cùng một lúc. Ông ta thấy mình có thể nhìn thấy những người lính, ngửi thấy mùi khói súng, nghe thấy tiếng súng hỏa mai và cả đại bác và cảm thấy khối u của mình dần biến mất. Việc tụng kinh những câu như viên sỏi thận của tôi đang tan ra hay việc hình dung khối u của mình biến mất thường có tác dụng tốt. Nhưng chỉ nghĩ thôi thì chưa đủ, dược sĩ và đồng thời là nhà tâm lý học, tiến sĩ Alan Walkins thuộc bệnh viện đa khoa Southampton của Anh, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề tâm lý đối với việc chữa bệnh của Liên hiệp Anh đã nói như vậy. Chỉ khi nào bạn thực sự sống trong những tình cảm tích cực thì bạn mới tác động được đến những phản ứng sinh hóa bên trong cơ thể”. Những tình cảm của bạn sẽ ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe, đó vẫn còn là một vấn đề phức tạp và khó đoán trước được. Nhưng chắc chắn rằng những tình cảm có thể chữa lành các viết thương là lòng tin, sự bao dung, lòng trắc ẩn, niềm vui, sự hài lòng và trên hết là tình yêu.
Một số lời khuyên:
Phương pháp để cảm thấy dễ chịu
Hãy tự nhận biết khi đang căng thẳng và bình tĩnh lại.
Hãy giả vờ bạn đang thở bằng tim để tập trung tư tưởng vào đó.
Hãy nhớ lại một giây phút hạnh phút trong đời như đoàn tụ gia đình, đứng trước một cảnh đẹp…
Sử dụng trực giác của mình để đối phó với tình hình
Hãy lắng nghe nhịp đập của trái tim.
Trong quá trình chữa bệnh
Hãy hòa đồng với mọi người, bè bạn, người thân.
Hãy tin tưởng vào phương pháp điều trị vào một người và chính bạn hoặc vào Cháu nếu bạn muốn.
Hãy thư giãn
Đừng để ý đến mọi vật xung quanh, hãy tập trung tư tưởng vào một cái gì đó, hãy suy tưởng.
Hãy hình dung căn bệnh đang lành
Hãy tìm lại niềm vui, tinh thần sáng tạo, mục đích sống, hãy ý thức được giá trị của mình.
Nguyễn Hồng Lâm – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.

Sức Mạnh của tình yêu – Phần 1

Những bệnh nhân tim mạch nếu có một người bạn hoặc người yêu thì khả năng sống của họ lớn gấp ba lần nhưng bệnh nhân cô đơn. Tại sao vậy các bác sĩ giải thích rằng tình yêu, hy vọng, niềm vui có thể giúp bạn lành bệnh.
Tám năm trước Jan Sandler phải nằm bất động trong nhà không làm việc được, không thể thăm hỏi bạn bè hay làm bất cứ việc gì khác. Cô bị đau dây thần kinh hông một cách trầm trọng một cú ngã đã làm tổn thương phần xương của cô, khiến phần dưới lưng bị sụn và dây thần kinh tắc nghẽn đã khiến cô luôn bị đau đớn. Jan Sandler đã thử dùng đủ các loại thuốc Đông, Tây y nhưng vô hiệu. giờ đây, cô tự chống đỡ với bệnh tật theo cách riêng của mình với niềm tin vào bản thân và tình yêu đối với cuộc đời.
Jan Sandler nói: “Ban đầu, tôi luôn chìm trong chán nản và thất vọng. giờ đây thì không, tôi lạc quan quan. Tôi làm những việc mà nghe có vẻ ngớ ngẩn. Ví dụ, khi đi dạo, tôi thường nói: “cảm ơn cỏ cây”, “Cảm ơn bầu trời”… Tôi tập trung vào những thứ nhỏ nhặt xung quanh và cố hài lòng với chúng. Khi đi ngủ tôi nhớ lại những niềm vui nhỏ trong ngày như người đưa thư mỉm cười, một người bạn gọi điện hỏi thăm…. Nhưng thật kỳ diệu, sự đau đớn của tôi dường như đã giảm đi một nửa”. Tất nhiên, không phải chỉ dùng tư tưởng là có thể đẩy lùi bệnh tật. Tuy nhiên, không phải chỉ dùng tư tưởng là có thể đẩy lùi bệnh tật. Tuy nhiên không phải chỉ dùng tư tưởng là có thể đẩy lùi bệnh tật. Tuy nhiên, các bác sĩ giờ đây đang quan tâm đến một vấn đề tình cảm cũng là một yếu tố chữa bệnh. Các công trình nghiên cứu cho thấy những cảm xúc của con người có thể gây ra những chuỗi phản ứng sinh hóa mà có khả năng làm tăng hoặc giảm khả năng của hệ thống miễn dịch. Tiếng cười có thể làm tăng lượng thể kháng trong máu, làm tăng chất immunoglobin A cũng như những chất gọi là Cytokines chất này làm tăng khả năng của cơ thể chống vi khuẩn và vi rút xâm nhập và loại bỏ các tế bào ung thư. Tuy vậy, vấn đề không chỉ đơn giản là chỉ cần xem nhiều phim hài thì có thể lành bệnh. Những nghiên cứu thực tế đã cho thấy rằng những suy nghĩ của bạn và quan trọng hơn là tinh thần của bạn tác động đến cơ thể một các rất phức tạp. Nhà sinh học học người Mỹ Caryle Hirshiberg đã nghiên cứu hơn bốn nghìn bệnh nhân đã từng chiến thắng bệnh tật ở giai đoạn cuối để viết cuốn “Một khám phá quan trọng”. Bà cho biết: “Trong mọi trường hợp những yếu tố về tinh thần và tâm lý là vô cùng quan trọng. Qua khảo sát những bệnh nhân đã từng giành lấy sự sống từ tay tử thần, bà nhận thấy rằng: dường như chính niềm tin vào phương pháp điều trị vào bác sĩ, vào bệnh viện đã mang đến những sự thay đổi sống còn. Những cuộc thử nghiệm khoa học cho thấy, niềm tin vào bác sĩ, vào phương pháp điều trị có tác dụng mạnh đến nỗi, ba trong mười trường hợp chỉ cần một ba trong mười trường hợp chỉ cần một viên thuốc trấn yên (có thể chỉ là một viên đường) đã xóa bỏ được nhiều triệu chứng bệnh. Phản ứng yên tâm này làm giảm huyết áp, làm lành các vết loét giảm ảnh hưởng của các chất kích thích, chữa viêm khớp và cả chứng trầm uất. Tiến sĩ Her bert Benson thuộc khoa tâm lý của trường dược Ha vớt nó rằng: “Mức độ tác dụng của niềm tin có thể lên đến 90%. Xin trích một đoạn trong cuốn: “Phương thuốc kỳ diệu” của ông: “Trong ba mươi năm phương thuốc nào hữu hiệu hơn là khả năng của chính bệnh nhận tự cứu sống mình”. Nhưng vấn đề là làm thế nào để có được niềm tin? Vào những năm 70 tiến sĩ Benson đã chỉ ra rằng một phương pháp đơn giản là trầm tư suy tưởng cũng giúp bệnh nhân rất nhiều trong việc chống lại những căn bệnh do căng thẳng gây ra như huyết áp cao, mất ngủ… Ông cũng cho biết, mặc dù bệnh nhân không cần phải trở thành những người sùng đạo nhưng 80% bệnh nhân đã chọn cho mình một thứ tôn giáo, họ luôn tụng niệm những như: “Lạy chúa tôi”, “Chúa là người dẫn dắt chúng con”… Sau khi thực hành phương pháp suy tưởng này là 25% số bệnh nhân kể cả theo đạo và không theo đạo nói rằng họ thấy sáng suốt hơn và quả thật, biểu hiện bệnh tật của họ ít hơn những người không thực hiện. Rõ ràng rằng, tôn giáo cũng mang lại điều tốt cho sức khỏe. Ba mươi năm nghiên cứu đã cho thấy, những người đi lễ nhà thờ, đặc biệt đúng với những người lớn tuổi. Ngoài ra ai đi lễ nhà thờ thường xuyên thì có thể giảm một nửa nguy cơ mắc bệnh vành tim. Và một công trình nghiên cứu ở Mỹ gần đây đã cho thấy, sáu tháng sau ngày phẫu thuật tim, khả năng sống của người có một niềm tin tôn giáo lớn gấp ba lần người khác.
Nguyễn Hồng Lâm – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.