Monthly Archives: January 2016

Bí quyết trường thọ của vua Càn Long – phần 1

Càn Long là nhân vật lịch sử mà khán giả nước ta đã được biết qua một số bộ phim lịch sử của Trung Quốc. Đặc biệt là, trong bộ phim truyền hình nhiều tập “Tể tướng Lưu gù”, Càn Long là một số các nhân vật trung tâm hết sức hấp dẫn. Tuy nhiên, có thể có người còn chưa biết Càn Long là ông vua có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Trung Quốc, trên thế giới cũng hiếm thấy, thậm chí cũng không có một ông vua nào có tuổi thọ cao tới như vậy.
Càn Long sinh năm 1711 mất năm 1799 là ông vua thứ 6 thời nhà Thanh. Năm 25 tuổi Càn Long lên ngôi, tại vị 60 năm, tạo dựng nên một thời kỳ kinh tế phồn vinh, chính trị xã hội ổn định vào bậc nhất trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, năm 85 tuổi. Trong cuốn “Thanh đế ngoại ký” có ghi lại một chi tiết lý thú. Năm Càn Long 83 tuổi, sau khi được tiếp kiến với ông, sứ thần nước Anh lúc đó đã tả lại: “Nhìn phong thái, ông vua 83 tuổi này, giống như một người mới khoảng 60 tuổi, động tác linh hoạt, tinh thần hết sức tỉnh táo và trẻ trung…”. Vậy bí quyết giữ gìn được sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của vua Càn Long là gì?.
Vận động thân thể
Trước nhất nếu nhìn lại cả cuộc đời vua Càn Long, có thể thấy rõ ngay một số điểm nổi bật.Trước hết, là một ông vua thời phong kiến, tất nhiên Càn Long không thể không tận hưởng những thú vị cũng như cuộc sống sa hoa của một bậc đế vương, song ông cũng rất chú ý đến vấn đề dưỡng sinh. Từ nhỏ, ngoài việc học tập các giáo lý để trị quốc an dân của thánh hiền, Càn Long còn được huấn luyện rất đầy đủ về các môn võ nghệ. Cho nên ông đã trở thành một quân vương đa tài đa nghệ. Từ võ công, kiếm thuật, bắn cung, cưỡi ngựa… cho đến các môn cầm, kỳ thi, họa… đều hết sức tinh thông. Hàng năm vào mùa hè Càn Long lại dẫn các quan võ ra ngoại thành thi tài bắn cung. Ông thuộc loại xạ thủ bách phát bách trúng: trong 9 lần bắn thường thì có 6 đến 7, thậm chí cả 9 mũi tên đều bắn trung hồng tâm. Mặc dù là vua của một nước, Càn Long thường hay mặc thường phục, lẫn trong dân chúng và không ít lần đã gặp phải tình huống giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha, không ít lần Càn Long đã giải cứu cho những người bị bọn côn đồ hoặc cường hào ức hiếp… Song, điều quan trọng nhất cần phải kể đền là: thời gian ông sống trong cung đình rất ít, phần lớn thời gian trong cuộc đời là dành cho những chuyến đi xa. Từ Bắc Chí Nam, từ Đông sang Tây, đâu đâu ông cũng đều đã từng có mặt. Riêng phương Nam, ông đã thực hiện tới 6 cuộc tuần du, 4 lần cùng đi với hoàng thái hậu và 2 lần mang theo các hoàng tử. Càn Long cưỡi ngựa và đi bộ, leo núi rất nhiều. Ngay trong những năm cuối đời, ông vẫn còn tự chống một cậy gậy trúc, leo lên Vân Long Sơn ở Từ Châu, uống nước suối và thưởng thức những bức thư pháp của Tô Đông Pha trên đó. Nhìn lại cuộc đời của vưa Càn Long, ta có thể nhận thấy, sự kiên trì rèn luyện thân thể đã mang lại những lợi ích rất lớn đối với sức khỏe. Tuy nhiên, rất nhiều chuyên gia cho rằng sự trường thọ của vua Càn Long có liên quan mật thiết đến những phương thuốc bổ mà ông dùng hàng ngày.
Lạc Sinh – Trí Thức Trẻ – số 26 – tháng 8 – 1997.

Thầy Nguyễn Mạnh Tường – Phần 2

Cả hai đều cùng chí hướng, sang Pháp học không phải để làm quan nên đều theo học Văn và Luật. Trong những năm 30 của thế kỷ này nhiều người đi học cốt kiếm sống thì một xu hướng chọn nghề như vậy là tiến bộ. Qủa nhiên sau khi đậu tiến sĩ văn khoa và cử nhân luật, về nước ông nghè Huyên cũng không được giao việc gì khác ngoài việc về dạy học ở trường Bưởi. Còn ông nghè kép thầy Tường của chúng ta với hai bằng tiến sĩ khi về nước cũng không tìm được việc gì xứng đáng với học vị của mình nên ông đã trở lại nước Pháp. Lần này ông đã được mời đi nghiên cứu văn học và luật học ở nhiều nước châu u: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Bỉ, Đức, Áo, Hungari. Sau mấy năm du khảo châu âu, ông đã viết hàng loạt sách như Nụ cười và giọt lệ của tuổi thanh niên, nói lên nỗi tủi nhục và khổ cực của thanh niên các nước thuộc địa trong bước học hành và các sách: Nền đá tảng Pháp, học tập gì ở các nước Đại Trung Hải, Cuộc du hành và tình nghĩa. Mãi năm 1936 về nước chính phủ thuộc địa Pháp mới mời thầy dạy văn học tại Trường Bưởi và chúng tôi mới có diễm phúc được học thầy. Trong khi dạy chúng tôi, thầy đã áp dụng các nguyên tắc giáo dục của Ra – bơ – le, của Rut – xô coi học trò là vai trò trung tâm, luôn luôn tôn trọng chúng tôi. Thầy còn cho chúng tôi thực tập đóng các vai như Rô – đơ – ri – gơ và Si – men trong kịch Lơ Xit khiến cho giờ học của thầy vô cùng sinh động. Với một học vị cao như thầy mà thầy bằng lòng nhận dạy những học sinh trung học chúng tôi với một đồng lương thấp hơn bọn Pháp trình độ kém hơn, chứng tỏ tấm lòng của thầy mới mở thêm văn phòng luật ở số 77 Trần Hưng Đạo. Tấm gương yêu nước của thầy mãi mãi là một tấm gương sáng cho chúng tôi. Đầu năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh mời thầy đến chuẩn bị phái đoàn đàm phán với Pháp ở Đà Lạt. Thầy thưa với Bác sợ không làm nổi việc lớn đó. Bác nói: là một luật sư nổi tiếng, ngài không làm thì còn ai làm? Về gặp ông Huyên được bạn thân nhắc: đây là lúc thực hiện chí hướng của chúng ta từ bao lâu nay. Thầy Tường bèn về đóng cửa văn phòng luật sư, nghiên cứu luât về chủ quyền quốc gia để chuẩn bị cho hội nghị. Chúng tôi có vinh dự là thầy giáo cũ ở trường Bưởi là thầy Tường và thầy Hoàng Xuân Hãn được chính phủ cửa tham gia Hội nghị Đà Lạt. Với tài hùng biện, tiếng Pháp tuyệt vời của thầy, thày đã làm cho bọn Pháp ở Hội nghị phải kinh ngạc! Khi kháng chiến bùng nổ, thầy đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ ở Hà Nội, rời bỏ nhà cao cửa rông, đem cả gia đình đi di tản cư về Phủ Lý, sau về Thanh Hóa. Thầy được chính phủ cử làm luật sư tại các tòa án quân sự và đại hình. Với chiếc xe đạp tòng tọc thầy đã đi cãi ở nhiều tỉnh không sợ nguy hiểm đến tính mạng, mặc dù anh ba lô viên người giúp việc của thầy đã bị trúng đạn chết tại bờ sông Hồng cách thầy có mấy mét… Khi mở Trường Dự bị đại học ở Hậu Hiền thầy lại dạy Văn khoa ở đó. Sau khi giải phóng Hà Nội thầy mới cùng gia đình trở về Thủ đô. Thầy được cử dạy ở Đại học Văn Khoa rồi làm việc ở Viện khoa học giáo dục.Trong những năm kháng chiến chống Mỹ đời sống của thầy hết sức là khó khăn, nhưng thầy kiên nhẫn chịu đựng vẫn âm thầm cống hiến cho ngành giáo dục hoàn thành 4 tác phẩm đồ sộ với 2 nghìn trang in: Lý luận giáo dục Châu u từ Ê – Rát – Mơ tới Rut – xô nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1994, Et – sin và bi kịch cổ đại Hy Lạp nhà xuất bản giáo dục năm 1996, Via gin nhà thơ vĩ đại thời La Mã cổ đại Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1996 Booj Orsestia bi kịch của Et – sin. Cả 4 công trình trên đều rất là bổ ích cho sự nghiệp đổi mới ở nước ta về giáo dục khoa học và xã hội học. Đến cuối đời ở tuổi 80 thầy vẫn cần cù làm việc với chiếc máy cữ cọc cạch. Thầy đã ra đi đột ngột khi mà một số tác phẩm của thầy viết còn dang dở, nhưng tấm gương yêu nước nồng nàng của một tri thức có sĩ khí, có lòng tự trọng cao, của một người thầy giáo thật sự tôn trọng và yêu mến học trò của mình để lại cho chúng tôi những tình cảm kính trọng và thương tiếc khôn xiết. Anh chị em chúng tôi bái lạy vong linh thầy và mãi mãi nhớ ơn thầy.
GS – Nguyễn Văn Chiển – Trí Thức Trẻ – số 26 – tháng 8 – 1997.

Thầy Nguyễn Mạnh Tường – Phần 1

Là học trò cũ của thầy, được học thầy cách đây gần 60 năm, chúng tôi thấy cần thiết phải nói tới công ơn của một thầy giáo có ảnh hưởng tới thế hệ chúng tôi. Mặc dầu đã có tuổi 88, là tuổi xưa nay hiếm, việc thầy đột ngột ra đi vẫn khiến chúng tôi vô cùng thương tiếc. Thế hệ thanh niên ngày nay không thể có cái diễm phúc được học một thầy giáo giỏi tuyệt vời như thầy Nguyễn Mạnh Tường. Ngày nay không thể có một tiến sĩ về dạy ở một trường cấp ba, huống chi đây lại là một người có những hai bằng tiến sĩ. Cũng cần nói thêm cả thế hệ thầy trò chúng tôi không có được cái hạnh phúc được học, được nói và được tư duy bằng tiếng mẹ đẻ như học sinh ngày nay. Chỉ một buổi nghe một thầy giỏi, ta đã thấy sáng măt sáng lòng, thế mà chúng tôi lại được học thầy những hai năm liền. Không một cuốn sách giáo khoa để trên bàn, với phong cách ung dung đầy tự tin, những lời giảng đầy hùng biện và thuyết phục của thầy về các giai đoạn lịch sử văn học và các tác giả như một dòng nước trong không ngừng tuôn ra từ một nguồn kiến thức tưởng như vô tận. Tôi vô cùng khâm phục thầy về một trí nhớ tuyệt vời, về tư duy lô gich phân tích mạnh lạc về các tác giả Pháp qua bài giảng về Lơ Xít chúng tôi biết phải vượt tình riêng để hoàn thành nhiệm vụ chung, qua các bài giảng về Mông tét ki ơ chúng tôi hiểu vì sao nhà nước phải phân biệt ba quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp qua phân tích các tác giả của thế kỷ ánh sáng, chúng tôi hiểu những tư tưởng chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản Pháp và còn biết bao điều nữa! Nếu giáo dục không phải chỉ là truyền đạt kiến thức mà dạy người ta cách tư duy, thì thầy Tường đã dạy chúng tôi cách tuy duy đúng đắn. Kiến thức có thể quên đi với thời gian nhưng phương pháp tư duy vẫn còn mãi. Chúng tôi mãi mãi biết ơn thầy về điều đó. Chúng tôi đều rất phục thầy về thái độ kêu hãnh với người Pháp thống trị lúc ấy. Năm 1932, khi đậu cả hai bằng tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở tuổi 22 lại đỗ thủ khoa với lời khen đặc biệt của Hội đồng giám khảo, các báo Pháp cả một thời đã ngợi khen trí tuệ Việt Nam. Thậm chí trong một bài xã luận trên báo Nhật, Cơ – lê – măng Vô – ten vừa khen vừa cay đắng cảnh báo: “Người Pháp phải cẩn thận để người Việt Nam được học và học giỏi như vậy, liệu về nước họ có chịu ngồi yên không?”. Quả thật thành tích học tập của thầy Tường thật là vô song. Năm 1989, ở tuổi 80, khi sang thăm Pháp ông hiệu trưởng trường Đại học tổng hợp Pari VII còn nhắc lại thành tích đó: “Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này chưa có một sinh viên Pháp nào, một sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của giáo sư Việt Nam kính mến: hai bằng tiếng sĩ quốc gia ở tuổi 22. Trường chúng tôi xin dành trọn một ngày để kính mời giáo sư giới thiệu kinh nghiệm và phương pháp học tập cho toàn trường chúng tôi”. Chúng tôi phục cái chí của thầy là ham học, tự học, tự đọc sách với đầu óc phân tích phê phán với một động cơ rõ ràng: học vì tự hào dân tộc. Dưới chế độ cũ, học sinh Việt Nam học chung với bọn Pháp thường bị phân biệt đối xử. Lòng yêu nước đã thúc đẩy Tường học vượt hẳn họ để họ không dám coi thường. Chính vì vậy ngay ở trường trung học thầy Tường đã luôn luôn đứng nhất lớp, trên học sinh Pháp, nhảy được hai lớp nên mới đậu Tú tài triết học ở tuổi 16 vào hạng ưu. Vì vậy thầy đã được học bổng sang Pháp du học. Sang Pháp học tại Mông pe – li – ê, chỉ sau 3 tháng, sinh viên Tường đã đậu chứng chỉ văn chương Pháp khiến mọi người phải kinh ngạc. Ở đây thầy Tường đã kết bạn thân thiết với Nguyễn Văn Huyên đã sang Pháp từ trước.
GS – Nguyễn Văn Chiển – Trí Thức Trẻ – số 26 – tháng 8 – 1997.

Thói quen tật lạ của những tài năng – Phần 3

Dẫu thế, ông vẫn viết không ngừng và buồn bã nghĩ rằng mình đã phung phí bao nhiêu điều chân thành với cuộc đời mà chưa được viết ra. Một cô thợ thơ ngay và xinh đẹp đọc rất nhiều truyện ngắn của ông và đem lòng yêu ông. Nàng biết ông sống cô độc, không có vợ, muốn hiến dâng để an ủi, cuộc đời ông. Nàng làm lụng, để dành tiền trong một năm để may một bộ áo váy lộng lẫy đến gặp ông. Không may, nhà văn đi vắng. Một người bạn ông một thằng cha bạt tử đã chơi với nhân tình, rồi bắn hạ nàng đi với hắn. Để trả thù, nàng hiến dâng cho thằng cha nọ và về sau trở thành một kỹ nữ nổi tiếng ăn chơi. Một năm sau đó, nhà văn biết chuyện cô gái vì yêu ông mà lỡ làng, đày đọa. Ông không sao viết nổi câu chuyện này vì lòng ông quằn quại và đau đớn. Không bao giờ ông gặp nàng, biết được tên nàng nên ông gọi nàng bằng đủ mọi cái tên âu yếm để cầu xin nàng tha thứ, dầu không phải lỗi tại ông!
Mac Twain, nhà văn trào phúng Mỹ, viết những thiên truyện phiêu lưu cực kỳ lý thú như “Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer”. Ông có biệt tài dựa trên cơ sở những sự thật tạo ra những truyện kể miệng rất sinh động, phong phú. Cứ mỗi lần kể, câu chuyện lại có thêm những tình tiết mới, mỗi lần một khác, mỗi lần một lý thú hơn. Có nhà phê bình máy móc buộc Mac Twain vào tội nói dối. Ông đáp: “Anh có quyền gì buộc tôi nói dối hay không trong khi chính anh chẳng hiểu người ta nói dối thế nào và cũng có biết đến cách nói dối tồi nhất. Trong lĩnh vực này, anh là kẻ dốt nát và ngu ngóc nhất!”.
Victor Hugo thường đứng mà viết, viết xong tờ nào thì vứt xuống sàn nhà. Lúc viết xong bộ “Những người khốn khổ”, nhìn chồng bản thảo, chính ông đã nói: “thật đúng là một quả núi”. Và còn bao nhiêu vở kịch, tiểu thuyết, tập thơ đồ sộ. Thế nhưng, để sửa chữa một câu thơ, có lúc Hugo đã phải trăn trở suốt ba tháng. Sau cuộc đảo chính mồng 2 tháng chạp 1851, ông bị lưu đày ra đảo Jersey trên biển Manche trong 19 năm. Ở đó ông hoàn thành ba tập thơ lớn và hai bộ truyện đồ sộ. Khi ông mất, người ta dựng tượng ông trên bờ lở, trên một bãi hoang, nhìn ra đại dương, từ đó trông rõ mỏn đá nơi yên nghỉ cuối cùng của chàng thủy thủ Giliat, nhân vật chính trong truyện “Những người lao động biển cả” của ông. Đọc tác phẩm ông, ta tưởng như ông đứng trên mội ngả đường của thế giới mà kêu lên với tinh thần nổi loạn, chống tàn ác, chống cường quyền: “Hỡi các công dân, hãy nắm lấy vũ khí?”. Và có bao nhiêu nhà văn là có bấy nhiêu thói quen kỳ quặc, nhưng tật buồn cười. Nhà văn Chateaubriant, tác giả Atala, ký ức sau mồ.. có thói quen lúc viết không thể ngồi yên được. Ông cứ đi lại lại rồi lúc lúc lại ngồi vào bàn ghi chép. Cứ vất vả thế cho hết quyển sách. Nhà văn Nga Gogol không ngồi mà chỉ đứng chôn chân viết bên một chiếc bàn mặt nghiêng. Dostoievsky buộc lòng phải viết rất nhiều và lúc nào cũng viết vội vàng vì túng thiếu và lúc nào cũng viết vội vàng vì túng thiếu và công nợ. Vì thế, ông thường nói: “Mơ ước về một cuốn tiểu thuyết còn hay hơn nhiều so với việc viết nó ra”. Nhà văn Nga Erenbourg, nhà thơ Pháp Beranger thường thích viết trong những quán cà phê, bất chấp sự ồn ào và người qua lại. Nhà văn Cresbillon phải đứng ở cầu thang mới viết được, thi sĩ Lord Byron khi làm thơ thì tay mân mê khuy áo như một đứa trẻ con, nữ sĩ Maintenon vừa viết vừa vuốt ve con mèo mới ra văn, còn bà Georges Sand sẽ không có cảm hứng nếu không thấy tách cà phê trước mặt…Đó là chưa nói đến những thói quen tật xấu khác của cac nhạc sĩ, họa sĩ, bác học, triết gia, các chính khách, tướng lĩnh và vua chúa. Có dịp ta sẽ nhắc đến các vị này.
Hoàng Nguyễn Kỳ – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.

Thói quen tật lạ của những tài năng – Phần 2

Nhà văn Konstantin Fedin – Nga lúc viết “Một mùa hè kỳ lạ” ở trọ trong một ngôi nhà tồi tàn cạnh bờ biển Gagrui. Nhà tróng hoác, cửa không khóa những con chó hoang đến ngủ ngay dưới bậu cửa ngôi nhà và lợi dụng lúc ông đi vắng, chui vào nhà, có con leo lên ngủ trên giường. Lúc về nhà, ông phải bước dò dẫm, sợ dẫm phải chó, rồi tìm mọi cách đuổi chúng đi để … viết. Ông viết vào bất cứ giờ nào, viết trong tiếng rên rĩ của lũ chó đói được vào gian nhà ấm áp, trong tiếng sóng gầm gào suốt đêm ngày nào mùa biến động. Chính cái tiếng động quen thuộc ấy giúp ông viết tốt tác phẩm ưu tú của mình. Ông nói: “Chính sự yên lặng mới cản trở công việc của tôi”.
Còn H. de Balzac thì viết hùng hục, hối hả, nhất là sau những bữa ăn ngon. Ông viết không nghỉ tay bởi đã tính trước cho đời mình phải có trên năm mươi tiểu thuyết. Balzac lucs viết tin chắc lạ lùng ở sự sống thật của các nhân vật của ông, ở sự thật không thể chối cãi là ông đang viết về chính cuộc đời của họ. Sau đây là một câu chuyện chứng minh. Một hôm, một nữ tu sĩ đến xin gặp ông trong lúc ông đang viết. Cô gái ngoan đạo khóc xin ông cải chính cho cô vì trong một truyện ngắn, ông đã viết về cô. Truyện kể rằng cô có việc được phải đến Paris rồi bị thành phố hoa lệ quyến rũ, cô bỏ nhà tu kín ở lại, trở thành một tiểu thư kiều diễm, ăn chơi: Tiêu hết tiền của nhà thờ, cô bị ném ra hè đường chỉ vài tháng. Ở tu viện, người ta hành hạ cô sau khi độc truyện ngắn này và buộc cô phải đến Paris tìm ông Balzac để yêu cầu ông xóa giúp viết nhơ đó cho cô.V “Xóa vết nhơ nào? Balzac sốt ruột nói: Tôi có biết cô là ai đâu? Thôi, cô đi đi và hãy sống như tôi đã viết. Nhưng đừng có mà ra hè phố nhé. Cô rất đáng yêu nhưng vì cô mà tôi đã mất đứt ba trang tác phẩm rồi đấy!. Viết với Balzac là như vậy. Vội vã, sôi nổ, thở phì phò trên trang viết của mình.
Christian Andersen: nhà văn Đan Mạch kể truyện cổ tích hay nhất thế giới người gầy, cao lêu nghêu, nhưng lịch sự và có cái mũi thanh tú. Ông thích đi du lịch, nay đây mai đó, hoặc dạo chơi vẩn vơ với một trí tưởng tượng phong phú không ai sánh nổi. Nhìn thấy một chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi, một cây nấm, một con chim gõ kiến… là lập tức những cái đó sẽ bước vào truyện kể của ông, sinh động, có hồn, nói năng, đi lại làm say đắm không phỉ chỉ riêng con trẻ. Andersen cao ngổng, nhút nhát và có phần xấu trai đó có lẽ vì cái duyên nói chuyện hấp dẫn nên được các cô gái yêu. Một lần, từ Venise đến Verone nước Ý, ông được một thiết phụ quý phái yêu tha thiết nhưng ông bỏ trốn vì như ông nói: trái tim ông không chứa nổi tình yêu đó. Có thể vì mối tình kia mà những truyện cổ tích của ông sẽ nhạt phai, sẽ bỏ ông mà bay đi như một đàn ong không về nữa! “Hình như tôi là người tưởng tượng ra tình yêu giỏi hơn là thực sự được hưởng tình yêu ấy!”. Một lần ở Venise, trong một khác sạn tồi chỉ có một lọ mực đã cạn. Ông dùng mực đó viết một truyện cổ tích nhưng vì cứ phải pha thêm nước lã vào mực nên câu chuyện về cuối càng nhợt nhạt. Và cái đoạn kết hay ho của nó thì nằm lại trong lọ vì… hết mực. Truyện cổ tích đó về sau mang tên: “Câu chuyện còn nằm dưới đáy bình mực cạn”.
Anton Tchekhov, nha văn Nga, lúc trẻ thường có thể viết bất cứ ở đâu, ngay cả trên bậc lên xuống cầu thang. Ông ghi chép nhiều cuốn sổ tay nhưng không hề dùng trong việc viết văn. Với ông, chúng tồn tại độc lập như một thể văn đặc biệt. Tcheskhov cho rằng những gì cứ phải ghi chép mới khỏi quên là không quý bằng những gì còn lại trong trí nhớ. Trí nhớ giúp ta lọc hết cát bụi và giữ lại những vụn vàng. Ông có nói một câu đại ý vì quá ít thời gian và ít tiền nên phải viết dài hay quá dài một truyện có thể ngắn hơn và hay hơn. Nếu tôi có một triệu rúp, tôi sẽ viết những truyện ngắn bẻ bằng một bàn tay! Nghĩa là phải có thì giờ và sung túc để sàng lọc cho hết những gì là thừa thãi, vô ích, rửa thật sạch sẽ câu văn.
Guy De Maupasscant, nhà văn Pháp viết truyện ngắn xuất sắc vào lúc tuổi 40 bị chứng bệnh tâm thần, có cảm giác như óc mình bị một thứ muối độc đục rỗng.
Hoàng Nguyễn Kỳ – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.

Thói quen tật lạ của những tài năng – Phần 1

Nhiều người sinh ra với những thói quen, tật lạ không sao hiểu và sửa nổi. Điều đó cũng không ngoại lệ với những người xuất chúng, với các vĩ nhân. Hình như với họ, nết xấu đó càng làm họ đáng yêu thêm và nổi tiếng, trước hết, xin kể số trường hợp của các nhà văn lớn cùng đôi nét về đời tư của họ. Văn hòa Nga Lev Tolstoi thường viết lúc về sáng. Ông cho rằng trong mỗi nhà văn có một nhà phê bình riêng của mình. Nhà phê bình đó bao giờ cũng nghiêm khắc về buổi sáng. Ban đêm, anh ta ngủ nên nhà văn tha hồ viết lung tung, viết những cái thừa. Ông viết không kịp với ý tưởng nên viết tháu, chữ rất khó đọc đến nỗi nhiều lúc ông không đọc nỗi nhiều lúc ông không đọc nổi bản thảo của ông. Chỉ có con gái Tania là quên đọc chữ ông. Sáng khi bố đã đi ngủ, có thu dọn bản thảo đưa đi đánh máy. Sau khi văn hào mất, một Ủy ban để thu thập tất thảy tác phẩm và di cảo của ông soạn ra toàn tập trong đó có những chuyên gia được chọn để đọc và giải mã chữ viết của ông.
Gustave Flaubert tác giả “Bà Bovary”, “Salam bo” là một nhà văn đau khổ vì viết chậm đến nỗi có lúc muốn vả vào mặt mình vì lối làm việc chậm rì rì. Nhưng ông còn khổ hơn vì thuộc tính nhân vật hóa của mình mạnh dạn đến mức, khi mô tả cái chết vì thuốc độc của Emma Bovary, ông cảm thấy như mình cũng bị ngộ độc và phải đi tìm thầy thuốc. Đó là nhà văn suốt đời dằn vặt, rượt đuổi mình để đạt tới sự hoàn mỹ, trong sáng nhất trong văn xuôi. Fluaber sống ở Rouen, trên bờ sông Seine. Suốt đêm, ông làm việc dưới một ngọn đèn chao xanh, bên cửa sổ nhìn ra sông. Ngọn đèn chỉ tắt khi trời sắp sáng. Những đêm tối trời, cửa sổ nhà ông trở thành ngọn hải đăng cho dân chài và cho cả thuyền trưởng những con tàu biển ngược dòng từ Le Havre vào Rouen qua khúc sông này trước nhà ông Flaubert.
Arkadi Gaidar (Nga) chuyên viết truyện thiếu nhi có thói quen đi đi lại lại trong nhà, trong vườn vừa lẩm nhẩm câu văn một mình rồi ghi lại. Hễ cảm thấy câu văn hay là cố đi gặp một bạn văn khác đọc cho nghe, không thể không chịu được. Một lần, ông cùng nhà văn Pauxtovski ở gần nhau, cùng sáng tác. Sau khi viết xong cuốn “Số phận chú bé đánh trống” chỉ trong hai tuần lễ. Gaidar đến tìm bạn trong khi ông này cũng đang mải mê viết đề nghị bạn nghe ông đọc cuốn truyện vừa viết xong. Thế bản thảo đâu?. Tớ cần gì bản thảo! Nó đang nằm nghỉ trên bàn. Rồi Gaidar đọc thuộc lòng một mạch tập truyện từ câu đầu đến câu cuối. Về sau, so lại bản thảo, Pauxtovski càng kinh ngạc vì Gaidar có nhầm một vài chỗ nhưng là những chỗ không có gì quan trọng.
Alexandre Dumas, người đã để lại cho văn học thế giới khoảng 300 tác phẩm văn xuôi và sân khấu, trong đó có nhiều tiểu thuyết dã sử bất hủ vì những mối tính éo le và những người hùng kiểu ngự lâm quân gan dạ, coi trời bằng vung. Thế nhưng Dumas lại là người mủi lòng, yêu mến, hay khóc nhất.
Vì những tờ báo đăng truyện dài kỳ của ông đều yêu cầu ông bớt dần nhân vật để khỏi kéo dài sự kiện và đối thoại, đỡ tiền nhuận bút nên mỗi lần phải kết liễu một nhân vật là ông rên rỉ và khóc lóc. Có lần, tại lâu đài Monte Cristo, người đầy tớ già thân tín nhìn qua cửa kính thấy ông ngồi trước bàn viết vật vã, sụt sùi, bèn gõ cửa xin vào hỏi lý do. “Ôi Tôi giết anh ta rồi, bác ạ, Portos ấy mà”. Rồi cứ thế, ông khóc hu hu. Portos là một nhân vật trong tiểu thuyết lừng danh “Ba người lính ngự lâm” của Dumas.
Hoàng Nguyễn Kỳ – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.

Để khoan khoái khi đi máy bay

Tránh dùng rượu
Đừng dùng rượu mạnh để tăng can đảm, bạn hãy cố gắng thở sâu, lưu ý sử dụng cơ hoành lồng ngực. Điều này giúp cho bạn giữ được khí oxy và khí CO2 ở mức an toàn, tránh cho bạn không bị chóng mặt. Bạn có thể vận dụng trí tưởng tượng của mình, nhắm mắt lại và thở sâu trong khi bạn tưởng tượng ra một nơi nào yên bình.
Uống nhiều nước
Không khí khô trong máy bay, thật sự là một nguy cơ làm mất nước của cơ thể, gây ra mệt mỏi, khô da, ngứa mắt. Tất nhiên là phải chữa trị, nhưng luôn luôn phải nhớ uống nhiều nước, loại nước không có gaz. Khi máy bay thay đổi độ cao, thức uống có gaz có thể gây đau bụng đầy hơi. Tránh cà phê và thức uống có cồn rượu, cả hai đều làm lợi tiểu (làm tăng số lần di tiểu).
Để tăng cường hệ miễn dịch
Tự bảo vệ mình đi trên không, chống lại những vi sinh vật, bằng cách dùng Vitamin C nhiều trước khi bay, khi liều cao, tổng số có thể đến 1.500 mg, tùy theo thể trạn. Vitamin C cũng giúp trung hòa, khi không khí trên máy bay có tích tụ những hóa chất khác.
Tìm cách vận động: Ghế ngồi trên máy bay thường làm cho bạn khó cử động và trong chuyến bay dài, chân của bạn có nhiều khả năng trở nên tê nặng thật khó chịu. Để giúp cho máu lưu thông bạn hãy duỗi ra và co lại những đầu ngón chân 20 lần. Duỗi chân ra càng xa càng tốt, để tay lên đùi và nhẹ nhàng ấn đẩy xuống, nâng chân bạn lên dưới áp lức này. Lập lại động tác nửa tiếng một lần. Thêm một động tác thể dục dễ dàng: nâng và thả rơi gót chân bạn nhiều lần trong một buổi chuỗi động tác liên tiếp và nhanh. Bất cứ khi nào thuận tiện, bạn hãy đi lên đi xuống ở lối đi giữa hai dãy ghế.
Ngăn ngừa chứng choáng
Nếu bạn thấy buồn nôn khi leo lên đến một độ cao hơn 1800 mét đừng sợ hãi. Đó là bạn bị chứng choáng vì thiếu oxy khi lên cao độ. Để tránh điều bất trắc và mau chóng bình phục, những người châu Á đã sử dụng gừng. Gừng làm gia tăng sự tuần hoàn khí Oxy đi khắp cơ thể. Bạn có thể dùng trà từ những rễ gừng khô xát thành bột. Pha 1 phần 2 muỗng trà gừng tỏng một tác nước sôi, để trà ngấm chừng 20 phút, sau đó uống tách trà này. Cũng có thể dùng gừng dưới dạng thuốc viên. Trà bạc hà cũng có tác dụng như trên.
Làm dịu chứng tiêu chảy của hành khách
Để bù lại sự mất chất điện giải và tránh mất nước của cơ thể, bạn có thể dùng thức uống theo công thức sau đây: 250 ml nước trái cây đã lọc bã. 250 ml nước tinh khiết. 1 phần 2 muỗng nhỏ mật ong. 1 phần 4 muỗng nhỏ bicarbonate de soude. 1 nhúm muối. Trộn những phần phần trên với nhau, uống trừng ngụm cho đến khi bạn uống hết.
Khánh Chung – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.

Cai nghiện bằng điện châm

Theo thống kê của cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ lao động thương binh và xã hội, ở nước ta hiện nay có khoảng trên 200 nghìn người nghiện ma túy đã được phát hiện. Con số này không dừng ở đó, mà nó đang có xu thế tăng mạnh, nhất là trong thanh niên, học sinh – sinh viên. Suy sụp về tinh thần, sức khỏe, băng hoại đạo đức và hạnh phúc gia đình…
Hiện nay tại Bộ y tế đã có hàng chục bài thuốc cai nghiện của các cơ sở y tế trong nước, đã đăng ký xin thử nghiệm lâm sàng. Song như đánh giá của Bộ y tế thì các bài thuốc đó chỉ có khả năng hỗ trợ để cắt cơn. Mặt khác, chi phí cho một lần cai là khá cao (250 nghìn đồng đến 400 nghìn đồng cho một lần cai nghiện). Nếu dùng thuốc Methadone nhập ngoại, chi phí còn cao hơn 20 triệu đồng 1 kg chỉ điều trị được cho 40 người. Hơn nữa với phương pháp này bệnh nhân thường đau đớn, vật vã trong thời gian cai, sẽ dẫn đến tâm lý sợ sệt. Gần đây, một nhóm các giáo sư, bác sĩ thuộc viện châm cứu đã và đang tiến hành phương pháp dùng điện châm để giúp cai nghiện. Đề tài này do giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài hu làm chủ nhiệm. Chương trình nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 1 năm 1996 và dự kiến sẽ báo cáo và nghiệm thu tại hội đồng cấp Nhà nước vào tháng 8 năm 1998. Lý giải nguồn gốc phương pháp điều trị mới giáo sư – bác sĩ Nguyễn Tài Thu cho biết, các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh rằng, bộ não con người thường xuyên sản xuất ra một lượng nhất định chất á phiện nội sinh. Chất này được phân bổ đến các cơ quan, để phục vụ cho hoạt động của cơ thể. Do đó, khi người ta đưa á phiện từ ngoài vào dưới các hình thức hút, hít, chích… thì bộ phận sản xuất ra á phiện nội sinh hoạt động ít đi. Chức năng đó yếu dần và cuối cùng là không hoạt động đều nữa. Ở người nghiện do não không kịp thời cung cấp á phiện nội sinh cho cơ thể, nên khi người nghiện không kịp hoặc không có điều kiện đưa á phiện từ ngoài vào, sẽ nảy sinh ra hội chứng rối loạn trạng thái sinh lý. Hội chứng này không chỉ xảy ra ở một tạng phủ mà nó phát sinh ra khắp cơ thể. Học thuyết tạng phủ của lý luận Đông y cho rằng, mọi biểu hiện sinh lý, bệnh lý của lục phủ ngũ tạng đều thông qua hệ thống kinh lạc, rồi đưa đến các tổ chức cơ quan toàn thân, kết thành một chỉnh thể hữu cơ giữa các tạng phủ về mặt sinh lý. Nó có sự tương hỗ giữ gìn và tương hỗ ức chế. Vì vậy khi sinh bệnh thì cùng nhau ảnh hưởng và cùng nhau ức chế. Với người nghiện, sự rối loạn sinh lý được biểu hiện ở cả 12 kinh mạch. Hội chứng của người nghiện thường giống nhau. Chỉ có trạng thái sinh lý là khác nhau ở từng người, nghĩa là tùy theo thể trạng hàn – nhiệt, hư – thực của người bệnh. Từ đó, có thể chia ra làm 2 thể trạng thái khác nhau: Vượng – Suy. Dựa trên những lý luận Y học đó nhóm khoa học đã lập nên một phương pháp điều trị khá là hoàn hảo, phương pháp điện châm vào các huyệt của cả 12 kinh mạch. Khi châm phải theo một nguyên tắc là dựa theo 2 thể trạng thái vượng hoặc suy để điều trị cho thích hợp. Nếu bệnh nhân ở thể vượng thì dùng thủ phủ pháp tả là chính, ngược lại bệnh nhân có thể suy thì dùng thủ pháp bổ là chính. Theo đó cũng chọn huyệt để châm cho thích hợp với từng bệnh nhân. Phương pháp điện châm nhằm mục đích kích thích, phục hồi chức năng sản xuất á phiện nội sinh của não bộ, giúp người nghiện nhanh chóng cắt cơn, và dần dần trở lại trạng thái bình thường. Qua thực tế điều trị cho thấy, dùng phương pháp này, bệnh nhân không bị rơi vào tình trạng đau đớn, vật vã trong thời gian điều trị. Khi bệnh nhân lên cơn nghiện, là lúc bác sĩ tiến hành châm. Sau khi châm, chỉ khoảng 5 đến 7 phút là bệnh nhân đã cắt được cơn. Thời gian điều trị tùy theo bệnh nhân nặng từ 15 đến 20 ngày, nhẹ từ 1 tuần đến 10 ngày. Không những thế phương pháp này còn giảm đến mức tối thiểu chi phí cho một lần cai là 36 nghìn đồng một lần. Vừa qua, nhóm khoa học đã tổ chức thí điểm ở 3 trung tâm thị xã Hà Đông 25 người, thị xã Hà Giang là 21 người, thị xã Cao Bằng là 18 người. Kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi, 100% bệnh nhân đã khỏi nghiện trở lại sinh hoạt bình thường. Song theo như giáo sư – bác sĩ Nguyễn Tài Thu, cần tạo cho bệnh nhân môi trường sống lành mạnh sau khi cai. Phải hết sức thương yêu, tôn trọng bệnh nhân, nên tránh các biện pháp thô bạo như giam giữ, trói buộc….
Hoàng Linh – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.

Tự lắp chuông nhạc thay lời gọi bạn

Kỹ thuật điện tử phát triển, làm thay đổi mọi hoạt động trong sinh hoạt hằng ngày. Ngay các loại chuông gọi cửa cũng được cải tiến gọn nhẹ, rẻ tiền, phát âm bằng những bản nhạc được cài đặt sẵn êm ái, tươi vui…
Bạn có thể dùng một vi mạch thông dụng, linh kiện bán dẫn CIC 482E và một số phụ kiện để lắp lấy chuông gọi cửa bằng nhạc hiệu. Vi mạch loại CIC 482E có khả năng phát ra 12 đoạn nhạc khác nhau, dễ nghe que thuộc. Cấu trúc bên trong của vi mạch này gồm:
Tạo dao động;
Nguồn nhịp điệu;
Hệ thống âm thanh;
Bộ nhớ âm nhạc ROM (Music read only memory);
Bộ điều chế và tiền khuếch đại;
Nguồn nuôi thực tế chỉ ở mức 1,35V đến 5,00V (xem sơ đồ nguyên lý)
Trong mạch điện như hình 1 với bộ nguồn 3V đã có thể dùng làm chuông gọi cửa có công suất âm thanh khá cao. Vì vậy mạch thuộc hệ MOS (Metal Oxide or Silicon – lớp oxit kim loại trên bán dẫn silic. Đây là loại công nghệ vật liệu phổ biến cho vi mạch). Do đó dòng điện ở trạng thái tĩnh chỉ vài microampe, có thể dùng cặp pin khô 1,5V hoặc ắc quy loại Nicd cũng hoạt động được khá lâu. Khi mạch hoạt động, phát nhạc, công suất tối đa cũng chỉ 60mA, khi đó chân của vi mạch nối thẳng xuống mạch âm qua khối K2 coi như không có K2 với mạch dương. Bằng công tắc bấm K1, ta có thể khởi động mạch điện cho phát nhạc. Cứ mỗi lần bật công tắc, khóa K1 (nên nhớ lúc này không có khóa K2) thì nó lại phát ra một khúc nhạc mới trong 12 khúc nhạc ghi sẵn (kể cả khi nó chưa kết thúc đoạn nhạc cũ). Người ta cho phép thay đổi giá trị của tụ điện C1 từ 1,5 nF đến 47 nF, nối từ chân 13 để điều chỉnh âm sắc và tốc độ phát. Gía trị của tụ C1 có thể thay đổi như vậy hoặc lớn hơn nữa là tùy ở người điều chỉnh khi lắp ráp mạch chuông nhạc. Vì đầu ra của vi mạch có tín hiệu nhỏ, do đó, người ta dùng cặp tranzito công suất T1 (BC 182 = BC 287, hoặc tương đương) và T2 (BC 212 = BC 307, hoặc tương đương) để tăng công suất ra loa. Hai tranzito này là loại tranzito công suất hoạt động theo chế độ A – B. Như vậy, các thành phần tín hiệu không phải dạng hình Sin thì bị khuếch đại nhiều hơn, nhưng vì dùng ở trạng thái tĩnh rất nhỏ, nên tiết kiệm được công suất nguồn nuôi. Công suất ra loa thay đổi, nhờ điều chỉnh chiết áp P1 (tùy bạn lựa chọn tham số khoản 1.000 ôm = 1 k (kilo ôm). Nếu muốn cho mạch điện hoạt động có âm thanh tối đa, thì có thể bỏ chiết áp P1 và nối trực tiếp trụ điện C3 (100pF) vào chân 9 của vi mạch CIC 482E. Khi dùng mạch này làm chuông gọi cửa thì khóa K1 là công tắc bật chuông. Khóa K2 là công tăc chuyển. Mạch này dùng lắp chuông cửa thì K1 được lắp trên hộp chuông K2 lắp đặt ngoài cổng cho khách ấn. Dùng công tắc K1 ta sẽ tìm được đoạn nhạc mình muốn (bấm nhiều lần để dò, bao giờ gặp nó thì dừng lại). Sau đó muốn bấm chuông thì dùng công tắc K2, mạch điện khởi động và phát ra đoạn nhạc mà ta muốn.
Chú ý:
Các tụ khóa trong mạch điện của sơ đồ lắp ráp có thể dùng ở trị số điện dung từ 2,2uF đến 6,8uF.
Các điện trở chỉ cần công suất 0,25 – 0,5W là đủ.
Không nên dùng loa có điện trở dưới 8 ôm, nhất là lúc dùng nguồn nuôi có điệp áp cao gần đỉnh 5 V.
Ta có thể dùng linh kiện có thể thiết kế lấy bộ nguồn nuôi là mạch nuôi chuông gọi cửa bằng nhạc hiệu, với điện áp trong gia đình đang dùng là 110V hay 220V, khi không dùng điện áp một chiều là pin (2 pin 1,5V hoặc ắc quy). Xem hình 2.
Các đi ốt nắn dòng có thể dùng bất kỳ loại đi ốt Ge hoặc Si.
Các linh kiện ở hình 1.
Vi mạch: CIC 482E hoặc tương đương.
Tranzito: T1 = BC 287 = BC 182…
T2 = BC 307 = BC 212…
Các điện trở R1 = 150 ôm
R2 = 150 ôm
R3 = 100 ôm, R4 = 330 ôm,
R5 = 100 ôm, P1 = 1 k
Các tụ điện: C1 = 15nF – 47nF,
C2 = 6,8uF, C3 = 100pF, C4 = 100nF, C5 = 6,8uF, C6 = 47nF, C7 = 4,7nF, C8 = 6,8 uF.
Loa 8 ôm – 0,1 W.
Các linh kiện trong hình 2.
Tranzito T1 = 2N2219 = OC301= BFY 34…
Đi ốt loại chịu được vòng 50mA trở lên:
D1 – D4 = D254 = D258 = 1N914. Điện áp đầu ra thấp hơn điện áp của đi ốt khoảng 0,6V.
D5 = ZF6 = ZF3 = ZPO3 =ZG3 =ZG9.
Tụ điện C1 =470uF – 1000uF/ 10V.
Điện trở R1 = 470 ôm
KS Nguyễn Đức Ánh- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Nuôi ông mật một nghề hấp dẫn! – Phần 3

Ngay như ở Đồng Nai được xem là cái rốn mật của cả nước, thế nhưng năm 1996 được xem là năm ăn nên làm ra của ngành ong mật thì Công ty ong mật Đồng Nai cũng chỉ mới thu được 850 tấn mật ong dành cho xuất khẩu. Trong lúc đó khả năng xuất khẩu mật ong của cả nước có thể đạt tới 3 nghìn tấn đến 3.500 tấn cho một năm. So ra tiềm năng to lớn của ngành ong mật chưa được đầu tư khai thác đúng mức!
Tìm ra nguyên nhân để định hướng phát triển nghề nuôi ong:
Sở dĩ nghề nuôi ông mật bấy lâu này khựng lại và có chiều hướng mai một đi nhiều là do nghề này chưa được đầu tư đúng mức. Theo anh Phạm Đình Trọng, giám đốc Công ty ong mật Đồng Nai cho biết. Trước đây hàng vài chục năm nghề nuôi ong đã bám rễ ở Đồng Nai nhưng ở thời đó chưa có tác động của khoa học kỹ thuật vào nghề nuôi ong như bây giờ, nên có thể nói từ năm 1960 trở lại đây nghề này đã mai một đi rất nhiều. Trước hết phải nói đến khâu con giống. Đối với con ong vòng đời của nó rất ngắn so với các giống vật nuôi khác. Tuổi thọ của ong chúa chỉ trong vòng từ 3 đến 5 năm tuổi. Vì thế khâu tạo giống, phục tráng giống cho đến bảo tồn gien di truyền của loài ong giống tốt là hết sức quan trọng. Mấy chục năm trước đây ở Việt Nam ta đã từng quen với giống ong Apis Mellfesa gốc Ý là giống ong tạo mật có năng suất cao nhưng người nuôi đã để giống này thoái hóa, nhiều do hiện tượng tạp gia trong đàn ong đã tạo nên những thế hệ đàn ong kế tiếp đồng huyết khiến cho ngoại hình xấu xí bé nhỏ đi nhiều so với giống Apis Mellfesa thuần gốc ở thế hệ ông bà, cố can. Đàn ong thoái hóa có bộ cánh nhỏ,vòi ngắn. Khâu con giống đã vậy, còn nói tới việc xây dựng vùng nguyên liệu có chất lượng để ong tìm mật rồi nhỏ mật với năng suất cao cho đến việc đầu tư vốn, đổi mới công nghệ chế biến bằng những thiết bị lắng lọc hạ thủy phân để có mật ong tinh chế chất lượng cao tham gia cùng “Hiệp hội các nước xuất khẩu mật ong thế giới chiếm lĩnh thị trường thế giới đều chưa được bàn đến! Do đó nghề này chưa được đầu tư đúng mức. Riêng ở Đồng Nai phải đợi đến đầu năm 1995 nghề nuôi ong mật mới được phục hồi. Kể trừ đó giống ông Apis Mellfesa thuần chủng gốc Ý mới được phục tráng. Công ty ong mật Đồng Nai đã mua giống ong thuần chuẩn này của một công ty Pháp, đem về phối giống với những ong đực sẵn có tại địa phương để tạo nên đàn ong F1 trên nếu thuần chủng Apis Mellfesa, theo cách đó mà nhân giống để có đàn ong F1 cung cấp cho các trại ong. Để thuyết phục người nuôi ong đưa giống ông chúa F1 vào nuôi đại trà, ban đầu công ty đã phải chịu lỗ vì giá mua 1 con ong chúa Apis Mellfesa là 60 nghìn đồng một con nhưng khi bán con giống ong chúa F1 công ty chỉ thu vào được là 40 nghìn đồng. Nhưng công ty vẫn được lời rất lớn đó là nghề nuôi ong đã được phục hồi trong toàn tỉnh. Nghề nuôi ong ở Đồng Nai có cơ hội phát triển tốt. Vì tỉnh đã có chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phát triển ngành ong mật theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Thái Hoàng – Trí Thức Trẻ – số 25 – tháng 7 – 1997.