Monthly Archives: December 2015

Hiến xác cho khoa học – phần 2

Bác sĩ Khánh cho biết “Chúng tôi (Trường Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh) được coi như đơn vị có nguồn xác dành cho nghiên cứu thực tập “tung đối” hơn so với tổng số 7 trường Đại học Y Khoa. Tuy nhiên, do nguồn này chủ yếu có được từ xác vô thừa nhận và ngày càng trở nên khan hiếm trầm trọng, và những xác đã học nhiều lần thường không sử dụng lại được. Chắc các anh đã nghe bác sĩ chủ nhiệm khoa của chúng tôi phát tín hiệu báo động SOS để kêu gọi, tìm kiếm nguồn bổ sung… Chúng tôi thật sự trân trọng nghĩa cử cao đẹp của anh minh, đem xác thân của mình dâng hiến cho khoa học, và thật phấn khởi trước tín hiệu bước đầu lạc quan của anh Trần Tiến Đức đem lại…”. Chúng tôi ghi nhận sự trân trọng, không hẳn chỉ trong những nhà khoa học ngành Y, mà ở từ nhiều phía, nhiều thành phần xã hội qua những văn bản ngợi khen, những vẫn thơ thán phục được lưu dán chung quanh nơi lưu trữ xác anh Nguyễn Đức Minh. Từ những nhận định mang tính chuyên môn của giáo sư bác sĩ Nguyễn Quang Quyền, thông qua nghĩa cử cao đẹp: tự nguyện xả thân phục vụ nghiên cứu khoa học (theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng) của công dân Việt Nam Nguyễn Đức Minh. Chúng tôi hy vọng và tin tưởng rằng, những nhà khoa học Việt Nam sẽ có được những phát kiến hữu ích về một căn bệnh bẩm sinh – Hội chứng Marfan, rất hiếm có ở Việt Nam và trên trường thế giới. Cũng theo giáo quyền, hội chứng Marfan thường có dấu hiệu trở thành thiên tài như: Tổng thống Pháp Charles De Gaule, Tổng thống Mỹ Abraham Lincol, và những suy nghĩ cao thượng của anh Minh với bản di chúc trước giờ lên bàn mổ cũng ẩn chứa một cái gì đó của một lá cờ tiên phong, một gương sáng của sự khởi đầu đầy tính nhân bản (giáo sư Quyền qua quá trình theo dõi, chuẩn bệnh cho anh Minh khi còn sống đã xác định đây là một biểu hiện bẩm sinh của hội chứng Marfan: Thân hình cao gầy lỏng không quá khổ người bình thường, di lệch thủy tinh thể và dị tật bẩm sinh ở tim). Trở lại với những người “Đi tìm những cái chết để du trì sự sống!”. Người sáng lập nhóm Hiệp Thông, một tổ chức tình nguyện phi lợi nhuận. Anh Trần Tiến Đức cho biết chúng tôi không dừng bước ở con số 50 người tình nguyện hiến xác cho khoa học, coi đó như một sự khởi đầu tốt đẹp, để tiếp tục cho một quá trình vận động tiếp theo. Chúng tôi đang tìm đến sự phối hợp hành động với các nhà chuyên môn, cụ thể đề nghị giáo sư Nguyễn Quang Quyền giúp đỡ đảm nhiệm cương vị cố vấn danh dự. Chúng tôi hiểu rằng, không đơn thuần như hết sức tế nhị cần phải nhìn nhận. Việc dâng hiến xác thân phục vụ khoa học, mục đích ý nghĩa hiệu quả đạt được là điều ai cũng rõ… Nhưng! Thông suốt thì e rằng chưa hẳn. Bởi lẽ quan điểm truyền thống Á Đông luôn coi cái chết là linh thiêng lắm, động chạm đến phong tục tập quán đạo đức hiếu nghĩa từ nghìn xưa để lại, dù để nhằm một mục đích nào đó, cũng chẳng dễ dàng gì.
Phương Đình Nguyễn- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Hiến xác cho khoa học – phần 1

Phóng sự: Thời gian vừa qua, một sự kiện đã được phản ánh rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các nhật báo hàng ngày tại thành phố Hồ Chí Minh và một số báo Trung ương, có cơ quan thường trú trên địa bàn thành phố, về một nghĩa cử cao đẹp của một con người: trường hợp tự nguyện dâng hiến xác thân của công dân Việt Nam – Nguyễn Đức Minh cho khoa học. Các đề tài báo chí viết về sự kiện trên ít nhiều gây được tiếng vang và được sự quan tâm chú ý trong dư luận. Không chỉ đơn thuần đối với những người nghiên cứu khoa học ngành Y, mà còn thực sự gây nỗi xúc cảm trong mỗi tầng lớp nhân dân. Trung tuần tháng 9 năm 1996, giáo sư Nguyễn Quang Quyền chủ nhiệm bộ môn giải phẫu Trường đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, với tư cách người trong cuộc (bộ môn GPH – Trường đại học Y dược là đơn vị trực tiếp quản lý xác anh Minh). Với tiền đề dư âm một bài báo đăng trên báo CG và DT, một lần nữa gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, bằng một thông điệp ngỏ tới mọi người “xác hiến tự nguyện rất cần thiết cho sự phát triển của khoa học và cũng rất cần cho sự sống của những con người đang sống”. Mọi sự cố gắng nhằm đặt lại một vấn đề hết sức cần thiết “Tìm kiếm những giải pháp từ trong cái chết để duy trì sự sống” Lần này đã thực sự tìm được nơi cần đến. Anh Trần Tiến Đức, một nhà công tác xã hội tự nguyện, người trực tiếp sáng lập và điều hành các tổ ấm hoàn thiện: mái ấm dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Tổ ấm Thăng tiến: dành cho các chị em lầm đường lạc lối, tổ ấm Hoàng Hôn, dành cho trẻ sơ sinh vô thừa nhận, qua nắm bắt lượng thông tin đã quyết định lao vào cuộc với kinh nghiệm của một nhà từ thiện phi lợi nhuận nhưng đầy bản lĩnh, một lần nữa anh Đức đã trình làng nhóm Hiệp Thông với kết quả bước đầu rất đáng khích lệ tập hợp được 50 con người tự nguyện dâng hiến xác thân cho lĩnh vực khoa học ngành Y thi của việc làm mang tính nhân đạo này, anh Trần Tiến Đức đã chủ động tìm đến giáo sư Nguyễn Quang Quyền. Sợ dây liên lạc giữa một nhà khoa học và một nhà từ thiện đã được thiết chặt lại trong cùng một mối đồng cảm và cùng một mục đích: tìm kiếm những tiêu bản sống từ trong những cái chết! Có mặt tại môn GPH Trường đại học y dược thành phố sáng ngày 17 tháng 10 năm 1996 cùng với anh Trần Tiến Đức, dưới sự hướng dẫn của bác sĩ phó chủ nhiệm Phan Bảo Khánh, chúng tôi ghi nhận sự hiếm thiếu đến nghèo nàn của các phương tiện trực quan hết sức cần thiết để bổ sung kiến thức “Tai nghe, mắt thấy, tay hành động” của các bác sĩ y khoa tương lai. Không gian khu thực tập thí nghiệm rộng mênh mông với những dãy hộc chứa xác được thiết kế vừa tầm một bàn công tác chuyên môn ngành Y (giải phẫu, khám cận lâm sáng…), và chỉ hai xác cô độc trần trụi lẻ loi đang thực sự làm nhiệm vụ phương tiện trực quan, cung cấp kinh nghiệm lâm sàng cho các Y sinh. “Thực tập trên xác để nghiên cứu và bổ sung kiến thức lâm sàng hết sức quan trọng và rất cần thiết trong giáo trình học tập xuyến suốt 6 năm của một sinh viên Y khoa”.
Phương Đình Nguyễn- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Đĩa bay đầu tiên của loài người đã xuất xưởng

Sau một thời gian khá dài chuẩn bị cuối cùng chiếc đĩa bay đầu tiên được xuất xưởng để bay thử nghiệm trước khi được sản xuất hàng loạt phục vụ cho cuộc sống. Chiếc đĩa bay này được các nhà sáng chế Nga của nhà máy chế tạo máy bay Xaratop do tổng công trình sư Lép Nhi Cô lai elvich Su kin lãnh đạo đặt tên là Ekip. Đĩa bay Ekip là một may bay bình thường hạng trung, đồng hạn với loại máy bay AN – 2 của Nga, nhưng có một thân hình Elip. Chức năng cánh của máy bay do toàn bộ đĩa bay với đường kính khoảng là 15 mét thực hiện. Ekip có 2 động cơ kéo và 2 động cơ phụ lực. Trọng lượng của nó là 9 tấn và có thể bay cao được là 9 km với tốc độ từ 150 đến 500 km một giờ.Theo tính toán của các nhà thiết kế thì đĩa bay Ekip không cần đến băng bê tông. Nhờ có đệm không khí ở phần dưới nên Ekip có thể lên xuống ở bất kỳ một mặt bằng nào trên mặt đất như cánh đồng, đường xa lộ, đường đất nối giữa các làng bản với nhau và thậm chí cả trên mặt nước vì Ekip còn được chế tạo như máy bay lội nước. Như vậy loại đĩa bay đầu tiên được sáng chế để sử dụng cho những nơi không có đường sá, hoặc đường sá đi lại rất xấu như các vùng rừng núi hẻo lánh, đồng lầy… Với những khả năng của mình Ekip có thể được dùng để chuyên chở người và hàng hóa tới những nơi mà các phương tiện giao thông khác không thực hiện được, để phục vụ cho công tác liên lạc, chuyên chở bệnh nhân cấp cứu, chữa cháy và tuần tiễu. Hiện nay theo đơn đạt hàng của các cơ quan kiểm lâm Nga, nhà máy chế tạo máy bay Xa ra tốp đang chuẩn bị cho xuất xưởng những đĩa bay đầu tiên. Theo dự tính ban đầu các nhà kiểm lâm Nga cần tới 3 trăm chiếc đĩa bay cho công tác của mình, nhất là công tác chữa cháy rừng. Theo các nhà khoa học Nga thì hiện nay Ekip là loại đĩa bay đầu tiên và hiện đại nhất thế giới. Nó có thể bay xa tới 6 nghìn km và bay lâu trong thời gian là 5 giờ đồng hồ và có thể chở được tới 32 hành khách. Một trong những ưu điểm nữa của đĩa bay Ekip là động cơ của nó có thể dùng cả dầu hỏa, khí hóa lỏng và loại nhiên liệu mới với thành phần tới 70% nước. Đĩa bay Nga hiện nay đang rất được thế giới chú ý. Đài truyền hình BBC của Anh đã làm hẳn một chương trình giới thiệu về nó. Còn các chuyên gia từ rất nhiều nước như Đức, Nhật, Trung Quốc và Mỹ đã tới nhà máy để tham quan kỳ công mới này của loài người.
Đ.T- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996

Vài con số kỷ lục ở động vật

Ngủ: Hoằng được coi là loài ít ngủ, không quá 4 giờ một ngày. Con cái đang cho con bú con ít ngủ hơn nữa. Mèo ngủ thoải mái 14 giờ một ngày. Gấu nâu vùng núi Pyrenee ngủ gà ngủ gật suốt mùa đông. Con mac mốt, một loài gậm nhấm ngủ đông sáu tháng một năm. Khi ngủ thân nhiệt xuống còn 8 độ C. Con Opossum, một loài động vật có vú ở châu Phi chiếm lỷ luật về ngủ, 19 tiếng một ngày.
Kính thước
Sứa biển khổng lồ dài tới 75 mét, bằng 6 ô tô buýt nối đuôi nhau. Cá voi xanh 35 mét. Cá mấp hành hương là 18 mét. Trăn, cá sấu, cá đuối xấp xỉ là 8 mét. Hươu cao cổ là 6 mét, voi là 4 mét.
Cân nặng: Cá voi xanh nặng 190 tấn tương đương với một đàn voi là 30 con. Cá mập hành hương là 40 tấn. voi là 6 tấn. Hà Mà và tê giác xấp xỉ là 3 tấn một con.
Sống lâu: Cá sấu 70 năm. Chim hải âu lớn là 80 năm. Rùa có thể sống tới 150 năm. Con phù du, thiêu thân chỉ sống được có 1 ngày.
Răng: Cá sấu há giơ bộ răng có tới 120 răng nhỏ, cả đời thay răng 25 lần như vậy có tổng cộng 3 nghìn chiếc. Cá mập có một lúc 3 nghìn chiếc răng. Chiếc nào hỏng vỡ được thay thế ngay, tính cả đời cá mập có tới 20 nghìn chiếc. Răng nhỏ của voi nặng tới 4 kg, răng nanh dưới của hà mã sắc như dao cạo nặng mỗi cái 1 kg. Con noóc có răng nanh phát triển thành ngà dài hơn là 80 cm.
Ăn: Voi ăn 200 kg cỏ khô một ngày và uống 200 lít nước, chia làm nhiều lần, mỗi lần từ 6 đến 10 lít. Sư tử mỗi bữa có thể ăn 40 kg thịt. Con sắc hắc tinh tinh có thể ngốn 50 quả chuối một bữa. Cá sâu không chỉ bằng lòng nuốt mồi sống, mà còn nuốt cả sỏi đá để tiêu hóa mồi. Rắn có tài nhịn ăn hài lòng với 8 đến 10 bữa một năm. Con trăn có thể nhịn ăn 12 tháng, nhưng có thể nuốt ngay một lúc cả con linh dương nặng 60 kg.
Mang thai: ngắn nhất là con opossum 12 ngày. Chuột nhắt là 3 tuần. Ta hiểu tại sao loài gậm nhấm này sinh sản nhanh thế. Sau là đến thỏ mang thai một tháng, một lứa có thể đẻ từ 5 đến 12 con. Dài nhất là tê giác, một năm là 6 tháng 20 ngày, voi Á châu 2 năm 1 tháng. Vô dịch là kỳ nhông đất ở dãy núi Alpe 3 năm 2 tháng 20 ngày.
Ngửi mùi: Nhạy nhất là bướm đêm. Con ngài có thể nhận biết được mùi quyến rũ của “người yêu” từ cách xa là 11 km. Con rái cá biển có thể đánh hơi mùi khói cách xa là 8 km. Cá mập phát hiện một giọt máu trong 115 lít nước. Gần ta hơn là chó có thể phân biệt là 100 nghìn mùi khác nhau, còn con người chỉ phân biệt được 3 nghìn mùi. Chó săn lông ngắn được rèn luyện có thể đánh hơi 500 chiếc va li trong vòng nửa giờ để phát hiện chất ma túy. Một con chó núi có thể dò tìm người bị nạn tỏng 1 héc ta tuyết phủ trong 30 phút, công việc này một nhóm 20 người cứu trợ phải mất 3 tiếng.
Tình yêu: Động tác giao cấu ở hươu nhỏ châu phi không quá 10 giây, ở voi là 30 giây, ở loài vượn cáo Madagascar là 2 giờ, và ở chuột nhắt đôi khi tới 12 giờ. Sư tử có thể làm tình 86 lần một ngày. Con bọ ngựa cái sau khi làm tình, ăn con đực. Còn đối với nhện đực, đôi khi chửa xong đã nằm trong dạ dày con cái. Để tránh tai họa này, trước khi làm tình con đực thường dân một con trùng cho con cái xơi và trong khi nàng mải ăn thì chàng tự do hoạt động. Cá mập cắn cá cái khi giao phối. Chó sói quan hệ tình dục khá thanh bình và chiếm kỷ lục về lòng chung thủy. Chú sóc len có thể chung sống 15 đến 18 năm với con cái.
Ở: Đại bàng hoàng gia ở rất thoải mái. Ở xứ E cốt phá hiện một tổ đại bàng êm ái chiều sâu là 4,5 mét làm với mỏ và móng. Chin én tha bùn bằng mỏ để xây tổ, phải mất là 1 ngìn lượt bay đi bay lại mới xong. Con hải ly để xây tổ có thể phá đổ một cây liễu đường kính là 20 cm trong một đêm.
Chạy nhanh: Huy chương vàng thuộc về báo bờm châu phi: 101 km một giờ. Huy chương bạc linh dương là 98,16 km một giờ. Huy chương đồng là hoẵng 98 km một giờ.
Thông tin: kêu to nhấ là cá voi xanh, có thể bằng cường độ tiếng ồn của một tên lửa bắn con tàu vũ trụ. Có thể nghe thấy ở cách xa là 850 km. Vì có thính giác rất tinh, nên chúng có thể liên lạc với đồng loại ở bên kia đại dương. Khỉ hú có thể nghe cách xa là 15 km. Chim diệc sao kêu như bò rống, có thể nghe ở xa là 4 km. Thỏ ở gần hang, để báo động khi có nguy hiểm, đập chân sau xuống đất.
Cá heo là một đề tài nghiên cứu rất lý thú vì tiếng nói của chúng rất phong phú và bí hiểm. Khi kêu chin chít, khi thì rít lên, khi thì kêu kèn kẹt. Chúng thính hơn người gấp 10 lần và liên lạc với nhau bằng siêu âm, con người không thể nghe được.
Nhìn: Chim săn mồi có mắt tinh nhất. Chim cắt phát hiện một con chim bồ câu ở cách xa là 8 km, con đại bàng phát hiện thỏ rừng ở 3 km, dưới đất. Mắt con mực khổng lồ là to nhất, nhãn cầu đường kính 38 cm, bằng quả bóng rổ. Ở động vật có vú, ngựa chiếm giải nhất về mắt to, đường kính là 5,5 cm.
ĐHP- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Vua Minh Mạng với cải cách hành chính

Minh Mệnh (1791 1841) con trai thứ của Gia Long, em cùng ca khác mẹ với hoàng tử Phúc Cảnh. Mẹ ông họ Trần, con gái Thọ quốc công Trần Hưng Đạt, được truyền vào cung lúc 14 tuổi, nhưng đến năm 24 tuổi mới sinh ra Minh Mệnh. So với ba người anh của mình, Minh Mệnh có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Thầy dạy Minh Mệnh trong một thời gian dài là cử nhân Đặng Đức Siêu, ông chẳng những hay chữ mà còn là người đức hạnh, tiết tháo, có cái nhìn cởi mở về văn hóa, tín ngưỡng, không bị giam hãm trong những tín điều cứng nhắc của Tống nho. Phong cách ấy ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành nhân cách, năng lực của Minh Mệnh. Giống như Lê Thánh Tông, Minh Mệnh cũng trước thuật rất nhiều. Hiện thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữa hơn 5 nghìn trang in mộc bản, thơ chữ Hán của ông. Ngoài những bộ Ngự chế thi sơ tập, Ngự chế thi nhị tập, Ngự chế thi tứ tập, Minh Mệnh còn viết khá nhiều văn xuôi, tập hợp trong Ngự chế văn sơ tập, Nghự chế văn nhị tập và Minh Mệnh chiếu dụ… Một nét khá điển hình ở Minh Mệnh là ông rất ghét những lối xưng tựng, ca ngợi mình. Có lẽ, Minh Mệnh hiểu rằng đằng sau những lời lẽ ấy thường che giấu một mục đích không tốt. Vào dịp khánh tiết tứ tuần vạn thọ (40 tuổi của Minh Mệnh, thị lang nội các là Phan Thanh giản và Trương Đăng Quế dâng lên bài ca tụng đại khánh, thuật các công việc từ lúc vua lên ngôi, siêng lo chính trị làm gốc để được phúc hưởng thọ. Minh Mệnh bèn phê vào bài tụng rằng: “Bọn người không lo làm hết chức phận, cứ ngày càng thêm lầm lỗi. Nay lại làn bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi có bổ ích gì? Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu? Vậy ném trả lại và truyền chỉ quở mắng”. Ôm hoài bão muốn trở thành một Lê Thánh Tông của triều Nguyễn, Minh Mệnh đề lên hàng đầu việc cải cách toàn bộ các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương, chặn đứng xu hướng ly tâm, phân quyền thời Gia Long. Ở Trung ương, trước hết Minh Mệnh cải tổ và đổi mới các cơ quan văn phòng nhà vua. Thời Gia Long, nhiệm vụ chính của các cơ quan văn phòng là phụ trách các công việc văn thư, giấy tờ và cố vấn cho nhà vua về các việc quốc gia đại sự khác. Đến Minh Mệnh, văn phòng nhà vua tách ra làm 4 bộ phận. Thứ nhất là Văn thư phòng, chuyên khởi thải và lưu giữ các tài liệu thuộc loại đặc biệt trọng yếu của triều đình. Thứ hai là Hàn Lâm viện chuyên việc soạn thảo chế cáo, từ hán. Thứ ba là Nội các chuyên nhận những chương sớ, sổ sách án kiện các nha lục bộ cùng các thành, trấn trong ngoài đã phụng sắc phê bảo lãnh chỉ. Thứ tư là Cơ mật viện có nhiệm vụ dự bàn những việc cơ mưu trọng yếu giúp đỡ vua việc quân sự. Sau Văn phòng nhà vua, Minh Mệnh hoàn thiện lục bộ, lục tự. Lục bộ gồm: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công với những qui định rất chặt chữ về người và việc Lục tự gồm: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thượng bảo tự. Thái bậc tự và Hồng lộ tự. Các tự này giúp lục bộ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ. Ngoài lục bộ, lục tự. Mịnh Mệnh còn thiết lập nhiều cơ quan chuyên môn được gọi là các nha lo việc phục vụ đời sống, sinh hoạt trong hoàng cung, nội vụ phủ rồi đến các cơ quan văn hóa, giáo dục như Quốc Tử giám, Hàn Lâm Viện… Ở địa phương, Minh Mệnh thay đổi cơ quan hành chính cấp tỉnh, xóa bỏ đơn vị hành chính Bắc thành, xóa bỏ đơn vị hành chính Bắc thành, Gia Định thành thời Gia Long, ban hành qui chế riêng chơi kinh đô (Thừa Thiên Phủ). Dưới triều Minh Mệnh, trừ Thừa Thiên phủ, nước a có 30 tỉnh. Đứng đầu mỗi tỉnh là thường là liên tỉnh là viên tổng đốc. Tổng đốc vừa là viên quan cao nhất ở địa phương vừa có tư cách như một thành viên của chính quyền trung ương được đặc phái về cai trị tại địa phương. Điều đó giúp vua dễ dàng điều hành nền hành chính đất nước theo ý mình. Cấp phủ, huyện cũng được sắp xếp lại chặt chẽ, qui chuẩn hóa chức cai tổng và đổi xã trưởng thành lý tưởng. Điều đặc biệt cần nhấn mạnh, Minh Mệnh rất chú ý việc tuyển chọn quan lại bằng khoa cử, khắc phục chỗ yếu dựa vào con đường nhiệm tử, luân công của các võ quan triều Gia Long. Triều Minh Mệnh kéo dài 20 năm, đã tổ chức được 6 khoa thi Hội lấy đỗ 56 tiến sĩ, 20 phó bảng, chính thức lấy học vị làm tiêu chuẩn tuyển dụng quan lại. Hầu hết 76 tiến sĩ, phó bảng trên đã được trọng dụng và không ít người trở thành những nhà chính trị, quản lý hành chính giỏi như Hà Tôn Quyền, Phan Thanh giản, Trần Tiến Thành, Phạm Văn Nghị… Không thể phủ nhận được rằng, nhờ cải cách triệt để, Minh Mệnh đã thực sự củng cố chế độ trung ương tập quyền, thúc đẩy bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả. Nhưng cũng do vậy, Nhà nước phong kiến thời Minh Mệnh đã cảm thấy yên vị mà không chịu đổi thay nên ngày càng lún sâu vào tình trạng chuyên chế cực đoan, quan liêu cao độ. Một chế độ quân chủ chuyên chế như vậy ở vào thời điểm của cuộc cách mạng công nghiệp, nó không thể đóng vai trò tích cực trong việc cách tân đất nước, hội nhập với thế giới bên ngoài. Dưới thời Minh Mệnh, làm sóng văn minh Tây u từ nhiều ngả tràn vào Việt Nam. Thế mà từ vua đến quan vì quá đề cao kinh điển Nho giáo, tạo nên sự mặc cảm tự tôn kỳ lạ: coi Trung Hoa và Việt Nam là những nước thực sự văn minh còn người phương Tây chỉ là lũ man di, mọi rợ. Nghĩa là cánh cửa mở ra đưa đất nước cách tân, đổi mới, thoát khỏi sự trì trệ bị khép lại. Qua Minh Mệnh, ông vua thịnh nhất của Triều Nguyễn giúp chúng ta đánh giá khách quan triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam
QC- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những điều chưa biết về giáo sư Nguyễn Tài Cẩn – Phần 4

Chỉ riêng khoa Ngôn ngữ học của Trường hiện nay có tới 90% số người có học hàm, học vị. Nhiều cuốn sách về ngôn ngữ học đã được ra đời, trong đó có những cuốn sách của ông như “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” năm 1975, “Ngữ pháp tiếng việt” (tiếng – từ ghép – đoản ngữ) – 1975, “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” – năm 1979, “Một số vấn đề về chữ Nôm” – 1983, “giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng việt” sơ thảo năm 1995… Ông được phong học hàm giáo sư vào năm 1980, về hưu năm 1992. Ông không những là nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, mà còn là một nhà giáo mẫu mực. Ông nói : “Tôi làm ông thầy phải làm trọn ông thầy. Thầy thì phải thương học trò”. Mỗi khi trích dẫn tư liệu ông hay cố gắng trích dẫn tư liệu của học trò và ngỏ lời cảm ơn họ. Ông coi đức tính trung thực là số một của người làm công tác khoa học. Ông có tác phong rất đặc biệt, hễ đến địa phương nào, những năm sơ tán là tìm mọi cách để ghi chép thu thập tài liệu (những hiện vật, sách cổ…). Khoảng cuối năm 1971 ông đã phát hiện được một cứ liệu rất có ý nghĩa: ba tấm ván in cổ còn sót lại ở Linh Tiên Quán, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Đây là ba tấm khắc in một bản chú âm kèm theo sau một cuốn kinh của Đạo giáo: bản cao thượng ngọc hoàng bổn hạnh tập kinh âm thích. Đây là tài liệu ở đầu thế kỷ 15 rất có giá trị. Hiện nay tuy đã ở lứa tuổi thất thập ông vẫn say mê nghiên cứu và viết sách. Ông vừa mới hoàn thành bản thảo cuốn “Sơ bộ tìm hiểu ảnh hưởng của Hán Văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ Thơ của Nguyễn Trung Ngạn dày gần 300 trang và chuẩn bị đưa tin. Cứ mỗi năm sau khi về hưu ông cho ra đời một cuốn sách là quí lắm rồi. Khi nói đến ông mà không nhắc tới người bạn đời của ông là giáo sư ngôn ngữ học có tên tuổi là Nona Xtankêvích thì thực là một thiếu sót lớn. Bà cũng là một chuyên gia về Việt học. Bà không chỉ là người bạn đời hiếm có, mà còn là cánh tay đắc lực giúp ông trong sự nghiệp khoa học. Chúng tôi xin phép sẽ giới thiệu về bà riêng trong một bài khác. Cuối cùng, chúng tôi muốn giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cho lớp trẻ mấy lời khuyên tâm đắc nhất. Giáo sư nói ngay:
Phải tìm cách hiểu rõ ưu nước điểm, khả năng của mình do hoàn cảnh khách quan, chủ quan đem lại. Phải hết sức nỗ lực bản thân, lợi dụng mọi hoàn cảnh để học tập và làm việc phương pháp phải hiện đại, cứ liệu thực tiễn phải dồi dào, năng nhặt chặt bị. Nhằm hữu ích cho đất nước, cho khoa học, đừng chạy theo tiểu lợi, cổ ngữ có câu “Kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành”. (Nhằm lợi nhỏ thì việc lớn không thành”).
GS. Trần Khuyến – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những điều chưa biết về giáo sư Nguyễn Tài Cẩn – Phần 3

Họ xin nhiều cán bộ của khu 4, nhưng 2 người là Nguyễn Tài Cẩn và Tôn Gia Ngân bị địa phương giữ lại để làm cán bộ lãnh đạo: Trưởng phòng, Phó Ty. Sau này nhờ sự can thiệp của Bộ giáo dục, anh được điều lên Bộ và là người của biên chế Bộ. Bộ thấy anh biết cả tiếng Nga liền cử anh đi làm chuyên gia tiếng Việt tại Liên Xô. Tháng 9 năm 1955 anh lên đường đi Liên Xô, tấm hộ chiếu bấy lâu nay ông vẫn còn giữ. Anh dạy tiếng việt ở trường ĐHTH Leningrát với tư cách là phụ giáo, một thời gian sống theo chế độ lúc bấy giờ, trừ tiền ăn ở, còn bao nhiêu nộp cho quỹ Đảng. Sau khi mới dạy được 10 ngày, anh hoảng hốt về Đại sứ quán gặp đại sứ Nguyễn Lương Bằng nói là khó quá, xin về nước vì người ta hỏi nhiều vấn đề lý luận khó quá, không dạy nổi. Đại sứ trả lời anh: “Ở nhà đã chọn anh, tức là có lý do. Anh, bố mẹ anh đều là người Việt Nam, anh đã sống ở Việt Nam nói và dạy được tiếng Việt. Một mặt anh cần phải học thêm lý luận để hiểu biết điều người ta nói. Khi họ nói thực hành, ta bảo họ chưa Việt Nam, thế là họ chịu… “Anh mừng quá, và cứ thế mà làm. Trong thời gian làm chuyên gia dạy tiếng Việt 5 năm anh cố gắng học thêm để cũng tốt nghiệp Đại học như sinh viên. Anh dự các giờ lý luận là chủ yếu, còn các giờ ngoại ngữ anh bỏ qua. Từ 9 giờ sáng anh Trường trừ những giờ dạy học, cái gì anh cũng học hết, anh miệt mài đọc sách ở Thư viện cho đến khi nào cửa Trường đống mới về. Sau một năm anh có thể học hết chương trình 5 năm. Giờ lý luận về ngôn ngữ học không nhiều lắm. Anh dự các buổi xe mi na, bắt đầu viết nghiên cứu. Bài đầu tiên được ông Yakhôntốp, chuyên gia nổi tiếng về tiếng Hán, khen là có nhiều cái mới, nhưng anh thận trọng không đăng ở đâu hết. Đến bài viết về các loại từ trong tiếng Việt thi được ông Khô lo dô vích rất khen và yêu cầu cho đăng ngay. Phấn khởi trước những thành công ban đầu và được sự cỗ vũ của các giáo sư và các bạn đồng nghiệp, anh viết tiếp về cấu trúc của danh ngữ. Bài này là một trong 3 bài của Trường gửi đi tham dự Hội Nghị quốc tế về Đông Phương Học. Sau đó anh được đề nghị viết luận án phó tiến sĩ với đề tài “Từ loại danh từ trong tiếng việt” và đã bảo vệ thành công vào tháng 10 năm 1960, luận án về ngôn ngữ học của người Việt Nam đầu tiên bảo vệ tại Liên Xô. Cuối năm 1960 ông về nước phụ trách ngành ngôn ngữ ở trường Đại học THHN. Trong hơn 30 năm ông đã có nhiều công lao trong việc đào tạo nhiều khóa sinh viên, xây dựng một đội ngũ cán bộ khoa học mạnh mẽ như ngày nay. Nhiều học trò của ông bây giờ là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ.
GS. Trần Khuyến – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những điều chưa biết về giáo sư Nguyễn Tài Cẩn – Phần 2

Một hôm đến thăm thầy cũ Hoài Thanh, cậu rất tự hào khoe với thầy về môn tiếng Pháp mình học rất giỏi, luôn luôn được điểm cao. Thầy nói luôn: “Muốn thành nhà văn, người Việt phải viết bằng tiếng Việt thôi. Viết văn Pháp thì làm sao bằng người Pháp được!….”. Nghe lời ông Hoài Thanh, cậu bắt đầu chuyển về tiếng việt, làm thơ bằng tiếng việt và được nhà thơ Nguyễn Đình Thư khen là có nhiều triển vọng. Nhưng một hôm cậu đến thăm thầy Đào Duy Anh thì thầy lại nói với cậu rằng muốn làm thơ, văn, nhạc, họa phải có tài thực sự. Có tài thì hãy làm, chứ làm một ngàn bài thơ, bản nhạc mà không được bài nào ra trò thì phí công. Còn người làm công tác nghiên cứu khoa học như ông thì chỉ cần tích lũy lâu rồi thế nào cũng làm được việc hữu ích. Có lẽ, ông Đào Duy Anh nói đúng và đã giải được điều bâng khuâng suy nghĩ của cậu bấy lâu nay. Và Nguyễn Tài Cẩn đã không trở thành nhà thơ, mà sau này trở thành nhà nghiên cứu khoa học. Rồi Nhật đảo chính Pháp, tiếp đến Cách mạng tháng tám năm 1945. Chàng thanh niên Nguyễn Tài Cẩn lúc này mới có 19 tuổi đã liên hệ ngay với Việt Minh nhận công tác. Lúc đó có phong trào xếp bút nghiên, bỏ thi, vì vậy sau này muốn đi học Đại học Văn Khoa anh bắt buộc phải thi lấy bằng tốt nghiệp phổ thông trung học. Một số thanh niên đi tòng quân, còn anh vì gày gò không đủ sức khỏe để đi bộ đội. Sau này anh tham gia đủ mọi loại công tác được giao: dạy BDHV, dạy cấp 1, cấp 2, có khi làm cả thư ký cho Hội phụ nữ cần việc gì anh làm việc nấy. Anh được kết nạp vào Đảng cộng sản năm 1949 và hoạt động bên Đảng là chính. Sau đó theo chủ trương chung địa phương cho anh đi học Đại học. Anh được phân công về dạy trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng ở Đô Lương, Nghệ An đồng thời dạy cả ở trường Sư phạm Trung cấp. Rồi anh được lệnh cùng với cô Hồ Mộ La, con gái cụ Hồ Học Lãm và có họ hàng với cụ Hồ Tùng Mậu, mở đường Hoa Ngữ dạy tiếng Hán để chuẩn bị đón các chuyên gia Trung Quốc. Anh được đề đạt làm trưởng phòng giáo dục khu 4. Năm 1953, anh được cử đi dự hội nghị giáo dục ở Việt Bắc. Ở đó anh thấy có cuốn “Le Russe” của Nina Potapova dạy tiếng Nga. Anh liền chép tay và nhờ anh Lê Quang Long dạy cho một ít phát âm. Thế là anh bắt đầu học tiếng Nga từ đó. Biết tin này, ông Đặng Thai Mai vốn là thầy giáo dạy anh ở Đại học Văn Khoa và lúc này đang ở Nam Kinh – Trung Quốc liền gửi cho anh một gói sách to, trong đó có cuốn “Nga ngữ giáo khoa thư”. Anh được đề cử làm trợ lý Dự bị Đại học ở Nghệ An do các ông Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy dạy. Sau năm 1954 ở Hà Nội bắt đầu mở Đại học.
GS. Trần Khuyến – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những điều chưa biết về giáo sư Nguyễn Tài Cẩn – Phần 1

Người Việt Nam đầu tiên bảo vệ luận án Phó tiến sĩ ngôn ngữ học tại Liên Xô
Tôi được tin giáo sư Nguyễn Tài Cẩn vừa mới đi Nga về liền tới thăm ông ngay. Từ ngày ông nghỉ hưu cách đây mấy năm tôi ít gặp ông. Bây giờ gặp lại ông tôi cứ nghĩ rằng ông già đi, nhưng trái lại trông ông khỏe ra và vẫn còn rất nhanh nhẹn, minh mẫn. Ông ở nhà A12, phòng 205, Thanh Xuân Bắc, một căn hộ rộng 55 mét vuông do Nhà nước phân phối năm 1987. Căn hộ của ông vẫn như xưa, phòng khách toàn những giá đầy ấp sách, còn đồ gỗ từ bàn ghế đến giường tủ đều cũ kỹ và bắt đầu mọt. Chao ôi, cứ tưởng ông đi Tây, đi tàu, vị giáo sư mà giới ngôn ngữ trong nước và thế giới ai cũng biết, giờ đây phải sống như thế nào kia! Không ngờ ông vẫn giữ tác phong giản dị và, theo lời ông nói, vẫn dựa vào lương hưu là chính. Có nơi mời ông làm giám đốc Trung tâm gì có những ông đã từ chối. Ông muốn dành toàn bộ thì giờ để viết sách và làm công tác khoa học. Năm ngoái cuốn sách mới “Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng việt” (sơ thảo) của ông dày 350 trang do nhà xuất bản “giáo dục ấn hành đã ra đời. Tiền nhuận bút chưa thấy đâu, ông mới chỉ nhận được vài chục cuốn sách biếu. Tôi quen ông từ cuối năm 1960, khi ông vừa mới bảo vệ xong luận án phó tiến sĩ đầu tiên về ngôn ngữ học tại Liên Xô và trở về phụ trách ngành ngôn ngữ của Trường Đại học THHN. Lúc đó ông mới được 34 tuổi. Ông sinh năm 1926 tại huyện Thanh Chương, Nghệ An. Biết năm nay ông bước vào tuổi thất thập, tôi ngỏ lời muốn viết một bài giới thiệu về ông. Ông cho biết mấy ngày qua nhiều nhà báo muốn làm việc đó, nhưng ông đã từ chối vì không muốn được nêu danh trên báo chí. Tôi là một thân tình và phải thuyết phục mãi mới được ông kể cho về thời trẻ được học hành ra sao và ông đã trở thành nhà giáo và nhà ngôn ngữ học như thế nào. Dòng họ ông có truyền thống thiếu học và có tinh thần yêu nước. Theo nhiều bạn bè, cậu bé Nguyễn Tài Cẩn rất thông minh. Cậu được ông bố dạy chữ Hán ngay từ hồi nhỏ. Cậu theo cha vào Huế học. Lúc đầu học cấp 1 ở trường Hương Trà và Phú Vang của huyện, sau đó lên cấp 2, cấp 3 cậu học ở trường Thuận Hóa do ông Tôn Quang Phiệt làm hiệu trưởng và do các thầy giỏi dạy, như ông Đào Duy Anh, ông Hoài Thanh… Học được một năm cậu chuyển sang trường Khải Định, tức Quốc học huế. Cậu học rất giỏi và luôn luôn đứng đầu lớp. Cậu học đều các môn, nhưng giỏi nhất vẫn là tiếng Hán và tiếng Pháp. Vì đứng đầu lớp nên cậu luôn luôn được học bổng toàn phần và được kéo cờ mỗi khi trường chào cờ. Cậu kéo cờ quen đến nỗi không cần nhìn lên cột cờ, cứ hết bài kèn chào cờ là lá cờ tới đúng đỉnh cột cờ. Còn nếu để học sinh khác kéo lạy y như rằng khi thì chậm quá, khi thì nhanh quá. Cậu còn có biệt danh là Nguyễn Tài “Gạo” vì lúc nào cũng chỉ chúi mũi vào học. Ngoài học văn hóa, cậu còn học cả thủ công, học cưa đục.
GS. Trần Khuyến – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Màn hình dẹt tương lai và triển vọng – Phần 2

Điều này đang thay đổi dần: Gateway 2000, một trong những nhà cung cấp PC theo đơn đặt hàng qua đường bưu điện lớn nhất của Mỹ, đã bán ra một chiếc PC trị giá là 3.800 đô la Mỹ, đây là chiếc máy có các chức năng của Ti vi mới màn hình 31 – inch. Nhưng ngay cả những chiếc bàn vững chãi nhất cũng khó có thể thích hợp với những màn hình như vậy. Các màn hiển thị dẹt sẽ giải quyết vấn đề đó, chúng cũng sẽ đặt ra một tiêu chuẩn cho các PC – TV (máy tính cá nhân kết hợp với Ti vi). Một điều dễ thấy là nhà sản xuất CRT lớn đang đổ xô chuyển sang kinh doanh màn hình dẹt, cho dù điều đó sẽ xơi tái thị trường hiện có của họ. Hãng Nec đang dành 25 tỷ Yên là 230 triệu đô la mỹ vào nhà máy mới ở Kagoshima để sản xuất các tấm hiển thị plasma 40 inch, đây là dạng thô của màn hiển thị dẹt có góc xem rộng hơn và chế tạo ở khổ lớn dễ là dạng thô của màn hình hiển thị dẹt có góc xem rộng lớn và chế tạo ở khổ lớn dễ dàng hơn so với loại LCD truyền thống. Dự kiến các loạt sản phẩm thế hệ đầu sẽ có giá khoảng 450 nghìn Yên một chiếc. Tính tới năm 2000, hãng Nec dự tính sẽ dành 85 tỷ Yên để xây dựng và củng cố năng lực sản xuất đạt mức 150 nghìn chiếc một tháng. Hãng này hy vọng rằng vào cuối thập kỷ này thị trường toàn cầu của PDP sẽ đạt trị giá là 260 tỷ Yên một năm. Hãng Nec sẽ phải đối mặt với rất nhiều cạnh tranh, đặc biệt là từ hãng Fuhitsu, hãng này đã tung ra màng hình PDP, 21 inch các đây vài tháng. Hiện hãng đang dành 60 tỷ Yên vào một nhà máy ở Miyazaki để sản xuất 20 nghìn màn hình 42 inch một tháng vào khoảng tháng 12. Hãng Hitachi cũng cho hay họ đang chi một khoản tiền tương đương cho các cơ sở sản xuất PDP. Sau khi ngừng công việc về man hình dẹt của hãng vào năm 1993, vì chi phí gia tăng và không có nhu cầu rõ rệt về loại sản phẩm này, nay hãng Hitachi đã bị coi là tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh của mình tới hai năm. Trong khi đó hãng Sony lại đang âm thầm quyết tâm đẩy mạnh chương trình màn hình Plasmatron cỡ lớn, một sự pha trộn giữa PDP và LCD do hãng Sony kết hợp với hãng Tektronix cùng nghiên cứu sản xuất ở Mỹ. Hãng Sony đang chuẩn bị tung ra loại Ti vi màn hình dẹt 25 – inch vào mùa thu năm nay, và tiếp theo là loại 40 – inch vào năm sau. Hãng Sony quả quyết rằng các màn hình Plasmatron có thể tới trên dưới 50 inch. Tương lai trước mắt của Ti vi màn hình dẹt có thể gắn liền với Ti vi có độ nét cao. Mặc dù các hãng của Nhật Bản đã khuếch trương loại sản phẩm này trong nhiều năm qua, nhưng các ưu điểm thẩm mỹ của HDTV chỉ thể hiện rõ tên các màn hình có chiều ngang ít nhất là 40 inch. Các màn hình dẹt cỡ đó sẽ mỏng hơn các màn hình CRT tới gần 90 cm. Với kích thước ấy, sản xuất các ống màn hình thủy tinh thậm chí trở nên đắt tiền hơn là chế tạo các tấm silic, như vậy các màn hình Ti vi dẹt cỡ lớn vẫn còn có thể đạt mục tiêu là rẻ hơn.
Ái Phương – Trí Thức Trẻ – số 16 – tháng 11 – 1996.