Monthly Archives: September 2015

Beatles sự tái hợp sau 25 năm – Phần 2

Đồng sáng tác ngay khi mới gặp nhau được phổ biến và liên tục đứng số 1 về lượng băng được bán chạy nhất Anh trong 27 tuần. Tiếp đó là chuỗi các thành công liên tiếp của Beatles. Các buổi biểu diễn trong các rạp rồi đến sân vận động, rồi được biểu diễn cho nữ hoàng Anh xem và rồi đến cuộc biểu diễn tại Mỹ khi mà chứng cuồng Beatles đang lên tới đỉnh cao, ngày 25 tháng 6 năm 1967, lần đầu tiên trong lịch sử truyền hình một buổi truyền hình trực tiếp với 24 nước trên 5 lục địa. Trong dịp này, John đã viết bài “All You Need Is Love”. Sau khi từ Mỹ trở về, các chàng trai đầu năm đã nổi tiếng trên khắp hành tinh. Hàng năm người ta ước tính có khoảng 12 triệu đô la trả cho Beatles do tiền bản quyền các bài hát của họ được phát trên các phương tiện thông tin, chỉ đứng sau Vua nhạc Rock Roll Elvis Presley. Các album của Beatles như “Sgt Pepper’s Lonely Hearts Club Band”, album được coi là hay nhất của mọi thời đại, “Love me Do” ,“Let It Be”, “Revolver”, “Abbey Road” hay còn gọi là “Double Blanc”…. Luôn là những album được phát nhiều trên các phương tiện thông tin và được hát lại rất nhiều. Đối với EMI với album “Please, Please Me”, Beatles đã vượt lên cả Pink Floyd, Queen, Tina Turner, Frank Sinatra. Trong những năm 60, các bài hát của Beatles chỉ dành cho lớp trẻ nhưng bây giờ đây, những bài hát của họ là cho cả những người già. Tuy nhiên, các chàng trai Beatles luôn trẻ và Free as a Bird dành cho mọi người. David Hughes, giám đốc EMI ở Luân Đôn đã nói như vậy. Một trường hợp đặc biệt trong lịch sử các ban nhạc. Cả John và Paul cùng viết nhạc và lời cho các bài của Beatles rồi cùng ký tên. Rất tí khi một người viết nhạc, người kia viết lời. Thỉnh thoảng cũng có những bài hát của riêng mỗi thành viên Beatles và chính chúng đã bổ trợ cho nhau rất hoàn hảo. Chẳng hạn khi Paul viết Its getting better all time thì John cũng hoàn toàn “It’s couldn’t get much wose”. Ngày 14 tháng 9 năm ngoái, tại cuộc bán đấu giá ở Sotheby’s bản gốc viết tay “Getting Better” của Paul đã được bán với giá kỷ lục là 161 nghìn bảng tương đương với 1.300.000 franc. Ở Mỹ cũng đã có một radio Beatles mà ở đây đã có rất nhiều nghệ sỹ nổi tiếng đến ghi âm như Bing Crosby, Elvis Presley, Dionne Warwick, Frank Sinatra, Placido Domingo… Ngay từ năm 1965, Brian Epstein, ông bầu của Beatles đã tiên đoán rằng các bài hát của Beatles sẽ tồn tại ít nhất đến năm 2000. Giờ đây, Catalogue Lennon McCartney gồm 262 bài hát đã thuộc quyền sở hữu của một thần tượng mới trên hành tinh, Michael Jackson. Hiển nhiên siêu sao của Sony cũng có cả quyền tác giả của những bài hát này tuy phải bỏ ra tới 47,5 triệu đô la, nhưng theo Paul McCartney, đây chỉ là “một khoản buốc boa không đáng kể”. Trong cuốn tự truyện của mình mà Paul đã ký với Ray Coleman vị cựu thành viên Beatles đã thất vọng: “Tôi tự xem mình như là anh trai của Michael. Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận hát với anh ta. Sau sự thành công của Thriller anh ta đã nói với tôi theo một thái độ rất giễu cợt rằng anh ta đã phải mất ngày để cho những bài hát của tôi.
Hoàng Dương Huệ-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Beatles sự tái hợp sau 25 năm – Phần 1

Sau 25 năm chia cắt, giờ đây những chàng trai của Beatles lại cùng hát, cùng thu thanh mặc dù thiếu John Lennon. Thật là kỳ ảo! Bằng những kỹ thuật hiện đại, 3 thành viên của Beatles đã cùng thu thanh với băng ghi âm của John Lennon và ngày 20 tháng 11, Free As, sẽ ra mắt công chúng.
Abbey Road là một ngã tư không thấy nổi tiếng ở phía Bắc Luôn Đôn nhưng đối với Beatles nó lại là một kỷ niệm và tên của nó cũng là tên của album cuối cùng mà họ cùng thu thanh với nhau năm 1969. Ở tuổi 22 với 12 album đã đi vào lịch sử, 4 chàng trai Liverpool đã đặt cả thế giới dưới chân họ và câu chuyện về họ vẫn đang được nhắc đến hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ở hợp đồng đầu tiên ký với EMI năm 1962 mà trong đó họ chỉ được hưởng 1 xu cho một đĩa bán được với nhãn EMI. Đến Abbey Road với 200 triệu bản họ đã yêu cầu nhãn đĩa riêng cho mình, đó là Apple. Công chúng những tưởng sẽ không bao giờ còn được thấy họ lại chơi cùng với nhau, nhất là sau khi thành viên chủ chốt của Beatles, John Lennon bị ám sát năm 1980, nhưng sau 25 năm im lặng, Beatles lại tiếp tục với những nguồn lợi khổng lồ. Với số tiền ước tính khoảng 100 triệu đô la Mỹ trong năm 1995, John, Paul, George, và Ringo đứng ở vị trí thứ 3 trong bảng xếp loại các nghệ sĩ giàu nhất thế giới hàng năm do tạp chí Forbes bình chọn. giờ đây, paul McCartney cũng đã giàu có không kém gì nữ hoàng Anh là 470 triệu bảng Anh. Yoko Ono, quả phụ của John Lennon cũng đã trở thành tỷ phú. Tuy không được như hai người trên nhưng George Harrision và Ringo Starr như những người giàu có thường xuyên sống ở Los Angeles, Monaco và Hawai. Luôn trong trái tim của những người hâm mộ, John Lennon, ca sĩ đã bị ám sát ngày 8 tháng 12 năm 1980 ở New York, đã được làm sống lại bởi chính những người bạn của mình. Họ đã dùng các công nghệ hiện đại nhất để tái tạo lại Beatles và kết quả là Free as a Bird đã được hoàn thành với giọng hát bất hủ của John ngay tại Supperstudio của Paul McCartney ở Sussex. Năm 1994, Yoko Ono đã đưa cho các cựu thành viên của Beatles một băng cassette mono có ghi âm hai bài hát do John hát so lo. “Free as a Bird” đã có từ khi xảy ra vụ mối bất hòa giữa Beatles và các nhà luật pháp của Mỹ sau cuộc vận động chống lại chiến tranh ở Việt Nam do Beatles phát động. “Real Love” là một bản balad muộn màng trong film Imagine mà John đã thực hiện trước đó. Với ông Neil Aspinal giám đốc Appel hãng điều khiển những món lợi của Beatles, sự trở lại của các ban nhạc huyền thoại, này là một chiến thắng lớn. Tiền thân của Beatles là ban nhạc The Quarry Men của những thiếu niên 15 tuổi gồm có John, Paul, George và tay trống Pete Best mà sau này vào năm 1962 đã được thay bởi Richard Starkey với biệt danh là Ringo Starr. Họ chỉ hát trong những hầm rượu, các quán bar ở Liverpool. Họ nổi danh sau khi bài hát “Love me Do” do Paul và John.
Hoàng Dương Huệ-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Hành Tây một vị thuốc tốt đối với người bệnh tim

Hành tây, hành củ gieo trồng ở vùng Tây Nam Á là thực phẩm quý của con người từ hơn 5 nghìn năm nay. Người châu âu coi hành tây là “Bà chúa” của các loại rau xanh, như nhà văn người Anh Stivenson ca ngợi hành là “Hoa hồng của cuộc sống”. Quả thực là như vậy vì hành tây luôn luôn được là loại thực phẩm cao cấp. Hành xào tái với chút rượu trắng hoặc sữa bò là món ăn cao cấp của các nước phương Tây. Món súp hành và hành phi của người Pháp nổi tiếng thế giới. Một nhà đầu bếp nổi tiếng của Mỹ từng viết “nếu không có hành tây thì loài người cũng mất đi hứng thú ăn uống”. Tuy nhận xét trên của ông đầu bếp người Mỹ có phần quá đáng nhưng hành đối với người châu u quả là rất quan trọng đến mức “Một ngày không ăn hành, toàn thân thấy mệt mỏi”. Vì sao người ta coi trọng hành như vậy? Bởi lẽ ngoài vai trò là thực phẩm cao cấp, là gia vị thơm ngon, hành còn có giá trị phòng và chữa bệnh cao. Các nhà y học đã tính rằng cứ 100 gam hành có 40 miligram Can, 50 miligram P, 1,8 miligram Fe, 8 miligram Vitamin C. Hành có các chất có thể kích thích lưu thông của máu, chữa bệnh cao huyết áp, giảm bớt lượng Cholesteron. Chính vì vậy mà các y bác sĩ khuyên những người mắc bệnh mạch máu tim mỗi ngày ăn 50 đến 70 gram hành củ thì có thể giảm bớt chất béo trong máu. Hành còn có tác dụng giảm bớt đường trong máu, bởi vậy những người mắc bệnh đái đường hàng ngày ăn từ 40 đến 50 gram sẽ rất tốt. Ngành y học hiện đại còn phát hiện thấy trong hành chứa nguyên tố vi lượng Se, là chất chống chất oxy hóa, đưa dưỡng khí đến các tế bào. Nếu lượng Se cao thì có tác dụng chữa ung thư tốt. Vì vậy hành còn có tác dụng chữa ung thư và chống lão hóa, khiến người ta sống lâu. Ngoài ra là các tác dụng kích thích dịch vị, dễ tiêu hóa, tăng hô hấp, tiêu viêm lợi tiểu, ra mồ hôi, chữa cảm cúm, tác dụng sát trùng…
Khánh Hà-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Thuốc kháng sinh có còn là vũ khí thần thánh?

Các loại thuốc kháng sinh không còn là vũ khí thần thánh của y học, ngày càng có nhiều chủng loại vi trùng đủ sức đề kháng chống lại vũ khí đó…
Mới tháng trước, chúng tôi còn ước tính rằng, thế giới có chừng 57 loại vi trùng có khả năng miễn dịch đối với một hoặc vài ba loại thuốc kháng sinh. Nhưng hôm nay, con số ấy đã là 59 giáo sư Gary Doem thuộc học viện Y học Boston của Mỹ thông báo. Vị chuyên gia hàng đầu thế giới về vi trùng học giải thích: “Những kháng sinh cách đây không lâu còn có tác dụng, nay trở thành bất lực vì một số vi trùng có khả năng thay đổi áo giáp một cách nhanh chóng, thông qua phép biến dạng gen. Nhờ nghệ thuật này, màng tế bào của nó thí dụ trở nên bức tường thành không thể vượt qua đối với sự công phá của thuốc, hoặc vi trùng tự sản xuất ra hợp chất có khả năng tiêu diệt thuốc kháng sinh trước khi thuốc kịp ra đòn. Ngoài ra, khả năng đề kháng nhanh chóng trở thành đặc tính phổ biến của vi trùng. Gần đây, giáo sư Doem nói tiếp chúng tôi chứng kiến một bệnh nhân, mà lần lượt 11 loại kháng sinh đều tỏ ra không hề có tác dụng. Thực tế các công trình nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn của hiện tượng ở đâu dân chúng càng tiêu thụ nhiều kháng sinh, nơi đó càng có nhiều nạn nhân lâm bệnh trầm trọng vì vi trùng có khả năng đề kháng với thuốc. Và ngược lại, Dân Đức và Ý, nơi như giáo sư Fernando Baquero học viện y khoa Madrid tuyên bố mức độ tiêu thụ kháng sinh thấp hơn so với các quốc gia phương Tây khác, số các trường hợp nhiễm bệnh như thế ít hơn hẳn. Thế nên theo giáo sư Doem, các bác sĩ nên thay đổi cách nhìn của mình đối với việc điều trị bằng kháng sinh, cần phải khuyến cáo bệnh nhân hạn chế tối đa việc dùng loại thuốc này và cuối cùng chấm dứt sử dụng kháng sinh trường hợp chưa xác minh được một cách nhìn xác thủ phạm vi trùng gây bệnh đồng thời loại thuốc nào hiệu nghiệm nhất. Kể một nỗi, công việc trên không thể thực hiện trên phạm vi rộng, chi phí cho một nghiên cứu như vậy tốn không dưới 50 nghìn đô la Mỹ. Chỉ còn con đường khác khả dĩ kiểm soát được việc cung cấp thuốc kháng sinh. Tại Nhật Bản, thập kỷ 50 giáo sư Doem nhớ lại khi phát hiện ra rằng, vi trùng Streptococus pneumonise là thủ phạm khiến 90% các trường hợp viêm họng không thể điều trị có kết quả bằng Eritromicine người ta đã thực hiện việc hạn chế tối đa việc sử dụng loại kháng sinh này trong điều trị bệnh viêm họng. Đến nay, số trường hợp viêm họng không khỏi khi điều trị bằng Eritromicine chỉ còn không đầy 2%.
Khánh Nam-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Datalink một sản phẩm kỹ thuật cuối thế kỷ

Với một chiếc đồng hồ đeo tay, bạn có thể biết được thời gian, các số điện thoại cùng địa chỉ cần thiết, thời gian biểu công tác hàng ngày, các cuộc hẹn… thậm chí nó có thể nối được với máy tính để tàng trữ hoặc sửa chữa đổi các dữ liệu. Đó không phải là chuyện trong phim “Điệp viên 007” hay trong các tiểu thuyết viễn tưởng, mà là sản phẩm của năm 1995 này. Ngay bây giờ nếu muốn có được sản phẩm kỹ thuật cao đó, bạn hãy bỏ ra 1.200 HKD tức là 1,7 triệu đồng Việt Nam là có thể mua được sản phẩm này của hãng Miscrosoft Timex. Sản phẩm thay thế cho đồng hồ và các số sách này có tên là Datalink. Do được đeo trên tay nên bạn sẽ dễ dàng đọc được các tư liệu cần thiết, các ông chồng sẽ không còn quên ngày sinh của vợ hay ngày kỷ niệm lễ cưới nữa. Thao tác sử dụng Datalink rất đơn giản, dễ dàng. Chỉ cần đưa các dữ liệu có liên quan như thời gian biểu, địa chỉ, số điện thoại, các cuộc hẹn vào trình tự Datalink trong máy tính, sau đó ấn vào nút truyền sang đồng hồ rồi hướng mặt đồng hồ vào phía màn hình máy tính. Khi đó trên màn hình máy tính se xuất hiện các vạch ngang nhấp nháy trong vài giây, đó là lúc quá trình truyền dữ liệu máy tính sang đồng hồ được tiến hành. Nếu muốn xóa hay thay đổi dữ liệu, bạn chỉ cần tiến hành trên máy tính. Những người sử dụng đồng hồ Datalink hết lời ca ngợi nó, gọi nó là tạp chí điện tử lưu động. Nó đã được trao các giải: “Giải thưởng thiết kế và công trình năm 1995, giải danh dự về thiết kế tiêu dùng, giải phát minh mới, giải sáng tạo hoàn hảo nhất. Ngoài các chức năng lưu trữ của máy tính, Datalink cũng là một chiếc đồng hồ hoàn thiện có chuông báo giờ, phòng nước, có thể dùng ở độ sâu 100 mét, có lịch đếm tháng, có giờ hai địa phương khác nhau, có pin dùng được 3 năm và hệ thống chiếu sáng Indiglo độc đáo của hãng Timex.
Phóng tàu vũ trụ bằng đường ray
Phi thuyền vũ trụ có thể được phong bởi đường ray thay cho các bệ phóng đang sử dụng như hiện nay, đó là phương thức mới, mà cơ quan vũ trụ Mỹ (Nasa) đang nghiên cứu. Theo phương án mới này, một đường ray dài 2,5 dặm Anh sẽ được làm từ chân núi lên tới đỉnh núi, đường ray được đặt trong một đường ống và chạy lấy đà. Sau khi ra khỏi cửa hầm trên đỉnh núi, tên lửa mới khởi động để đẩy phi thuyền lên trời, làm như thế sẽ tiết kiệm được một tầm tên lửa.
Thu Thủy -Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Vì sao AFTA phải ra đời – Phần 2

Tuy được đánh giá tích cực như vậy, nhưng về thực chất lúc bấy giờ Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA không đặt mục tiêu đạt đến sự hình thành một khu vực mậu dịch tự do hay một liên minh thuế quan mà chỉ đưa ra một chế độ ưu đãi mậu dịch khu vực trên cơ sở tự nguyện đối với từng mặt hàng. Vì thế, sau khi Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA ra đời, chỉ có một số mặt hàng của các nước Asean cũng như các bước đi đến việc thống nhất kinh tế khu vực… Từ tinh thần của dấu mốc trên, tại cuộc họp thượng đỉnh các nước thành viên Asean tại Bali – Indonesia năm 1976, các nhà lãnh đạo các quốc gia Asean đã đạt được bốn hiệp định cơ bản, trong đó có kế hoạch hợp tác kinh tế mà lĩnh vực ưu tiên là cung ứng và sản xuất các hàng hóa cơ bản, các xí nghiệp công nghiệp lớn, các thỏa thuận thương mại ưu đãi, các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên ít có ai có thể ngờ được rằng mặc dù đã có những hiệp định khung trên, nhưng mãi năm 1977 Ngoại trưởng các nước Asean mới ký được một bản hiệp định chi tiết. Đó là hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA. Ngay sau khi được ký Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA, đã được dư luận quốc tế nhìn nhận như một bước đi ban đầu trong cam kết của các nước Asean về tham gia tự do thương mại trong khu vực Asean. Tuy được đánh giá tích cực như vậy, nhưng về thực chất lúc bấy giờ Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA không đặt mục tiêu đạt đến sự hình thành một khu vực mậu dịch tự do hay một liên minh thuế quan mà chỉ đưa ra một chế độ ưu đãi mậu dịch khu vực trên cơ sở tự nguyện đối với từng mặt hàng. Vì thế, sau khi Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA ra đời, chỉ có một số mặt hàng của các nước Asean được hưởng chế độ giảm thuế quan ưu đãi của cả nước thành viên. Tình trạng này đã làm cho Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA chỉ ảnh hưởng đến giá trị thương mại trị giá là 47 triệu đô la Mỹ nhập khẩu trong Asean, tức là chưa bằng 2% tổng giá trị thương mại Asean lúc đó. Nhận thấy hiệu quả của PTA không mấy khả quan, các nước Asean lại ngồi họp bàn với nhau vào những năm đầu của thập kỷ 80. Sau đó, Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA đã chuyển từ nguyên tắc tự nguyện sang phương pháp tiếp cận hàng loạt bằng việc cắt giảm thuế quan với mức tối thiểu 20% được áp dụng cho toàn bộ hàng nhập khẩu dưới giá trần cụ thể. Chính điều tưởng như tháo gỡ cho PTA này lại tiếp tục làm cho phạm vi ảnh hưởng của Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA đến thương mại nội bộ Asean bị hạn chế. Đến năm 1987 mới chỉ có 337 trong tổng số là 12.783 mục hàng được đưa vào danh mục thương mại ưu đãi của các nước Asean. Lúc này, rõ ràng với rất nhiều nỗ lực nhưng sự thúc đẩy hợp tác kinh tế trong khối Asean đã không đạt được mục tiêu mong đợi. Trong khi đó, đòi hỏi về thu hút đầu tư nước ngoài của các nước thành viên ngày càng mạnh mẽ, nhu cầu tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Asean ngày một cao khiến cho thủ tướng Thái Lan năm 1992 một lần nữa lại đưa ra một cố gắng mới cho hợp tác kinh tế khu vực: Đó là tư tưởng về một khu vực mậu dịch tự do Asean, gọi tắt là AFTA. Ngay cùng năm, hội nghị bộ trưởng kinh tế các nước Asean đã ký hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung là CEPT. Đây được coi là một bước ngoặt trong hợp tác kinh tế Asean. Khu vực mậu dịch tự do Asean AFTA ngay sau khi ra đời có một tác dụng lớn đối với nền kinh tế của mỗi nước thành viên Asean. Chẳng hạn chỉ hai năm sau khi khu vực mậu dịch tự do Asean AFTA ra đời, kim ngạch buôn bán với các nước trong khối của Thái Lan đã tăng lên 30%. Hoặc, theo thống kê của Ban thư ký Asean thì mức trưởng thương mại nội bộ hàng năm của Asean đã đạt tới con số là 26% một năm.
Hoàng Hải -Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Vì sao AFTA phải ra đời- Phần 1

Từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Asean, nước ta sẽ bước đầu tham gia khu vực mậu dịch tự do Asean, gọi tắt là AFTA. Thế nhưng, AFTA ra đời trong bối cảnh nào thì còn ít người biết.
Tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á gọi tắt là Asean được thành lập năm 1967 với việc ký Tuyên bố BăngKok của các nhà lãnh đạo năm nước Indonesia, Malaysia, Phillippin, Singapore, và Thái Lan. Trong bản tuyên bố này, mục tiêu hợp tác kinh tế kỹ thuật và xã hội được nêu lên như một điều khoản quan trọng bậc nhất. Tuy nhiên, do bối cảnh tình hình chính trị khu vực lúc đó, nhất là ảnh hưởng cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ phát động, mục tiêu này đã bị đưa xuống hàng thiết yếu và ít được quan tâm chú ý. Vào năm 1975, khi hình thái chính trị trong khu vực đã trở nên rõ ràng, lật lại nội dung hợp tác kinh tế của Tuyên bố Bangkok 1967, Thủ tướng Singapore lúc đó là ông Lý Quang Diệu đã tuyên bố: “Đây là thời gian thích hợp để có những bước đi tích cực nhằm thống nhất các kế hoạch khu vực liên quan đến các chính sách công nghiệp, nông nghiệp của các nước Asean cũng như các bước đi đến việc thống nhất kinh tế khu vực…”. Từ tinh thần của các dấu mốc trên, tại cuộc họp thượng đỉnh các nước thành viên Asean tại Bali – Indonesia năm 1976, các nhà lãnh đạo các quốc gia Asean đã đạt được bốn hiệp định cơ bản, trong đó có kế hoạch hợp tác kinh tế mà lĩnh vực ưu tiên là cung ứng và sản xuất các hàng hóa cơ bản, các xí nghiệp công nghiệp lớn, các thỏa thuận thương mại ưu đãi, các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên ít ai có thể ngờ được rằng, mặc dù đã có những hiệp định khung trên, nhưng mãi năm 1977. Ngoại trưởng các nước Asean mới ký được một bản hiệp định chi tiết. Đó là Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA). Ngay sau khi được ký, Hiệp định thỏa thuận thương mại ưu đãi – PTA đã được dư luận quốc tế nhìn nhận như một nước Asean về tham gia tự do thương mại trong khu vực Asean.
Hoàng Hải -Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Ăn nhiều mệt mỏi lồi mắt … tay run

Tháng trước người yêu của em lấy vợ. Sau thời gian chiến tranh lạnh đột nhiên em ăn khỏe và ngon miệng lạ thường. Tuy vậy, thân thể lúc nào cũng thấy mệt mỏi. Tim đập mạnh. Mắt lồi, hay hồi hộp. Run chân tay. Cổ hơi phình to… theo “Tri Thức Trẻ”, như vậy, em đã bị bệnh gì và cách thức điều trị thế nào?
Đáp có thể bạn đã mắc bệnh cường tuyến giáp trạng còn gọi là bệnh Basedow. Là một bệnh chưa rõ nguyên nhân. Không các loại bướu giáp đơn thuần, đây là bệnh phổ biến trong các bệnh nội tiết và 2,6% các bệnh nội khoa được điều trị ở bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phần lớn ở tuổi 20 đến 40. Bệnh nhân nữ nhiều hơn bệnh nhân nam. Đến nay vẫn chưa rõ nguồn gốc bệnh, không có nguyên nhân nào duy nhất gây bệnh. Nhưng thấy có các yếu tố khởi phát bệnh như yếu tố tâm thần, quan trọng bậc nhất là các chấn thương tâm thần, các stress đặc biệt ở người lớn ví dụ các chuyện tang tóc, bất hòa vợ chồng, thất vọng trong tình yêu, bất mãn, buồn phiền, căng thẳng thần kinh kéo dài, chiến tranh… Theo một số thống kê trên thế giới, tỷ lệ các yếu tố này lên tới là 40 đến 90% các trường hợp, các giai đoạn đặc biệt trong đời sống tình dục của phụ nữ tuổi dậy thì, chửa đẻ, sảy thai, mãn kinh cũng dễ mắc bệnh, chiếm tới 25% các trường hợp. Các yếu tố này sinh ra sự mất điều chỉnh giữa thần kinh vỏ não, tuyến yên và tuyến giáp trạng, tuyến yên hoạt động quá mức tiết ra nhiều Thyrotropin. Người ta còn cho rằng Basedow là một bệnh tự miễn dịch vì tìm thấy chất kích thích tuyến giáp có tác dụng dài bản chất là Gamma globulon trong máu bệnh nhân bị Basedow. Bệnh biểu hiện nhịp tim nhanh, là triệu chứng sớm nhất và bao giờ cũng có. Mạch 100 lần một hút hay hơn, người bệnh thấy trống ngực, hồi hộp, đô khi khó thở. Người nóng bức, khát nhiều, da nóng ẩm, tuy ăn ngon miệng, ăn nhiều nhưng gầy sút nhanh mất 5 đến 10 kg hoặc hơn sau một vài tháng gặp 92% các trường hợp. Bướu cổ thường chỉ to vừa hoặc hơi to, rất ít quá to. Ngoài ra còn có các dấu hiệu lồi mắt, mắt sáng long lanh, dấu hiệu cường giao cảm biểu hiện run đầu chỉ đặc biệt run đầu ngón tay, có rối loạn tiêu hóa, hay xúc động… Người bệnh thường mệt không lao động được. Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ chết do những biến chứng vào tim bắt đầu có con nhịp nhanh, sau đó loạn nhịp hoàn toàn, tim to toàn bộ rồi tình trạng suy tim xảy ra không hồi phục được. Bệnh nhân có thể chết do suy mòn, suy kiệt. Hiện nay bạn có thể chọn một trong ba phương pháp điều trị sau: điều trị khoa bằng các kháng giáp trạng tổng hợp (MTV, PTV, Carbomazol…) trong vòng 18 đến 24 tháng, 50% bệnh nhân sẽ khỏi hẳn. Điều trị bằng 131I lốt phóng xạ, đây là phương pháp điều trị đơn giản, rẻ tiền, có hiệu, có hiệu quả, có thể xem đây là cách phẫu thuật tuyến giáp bằng tia, không cần dùng dao. Tia B của 131I làm giảm tưới máu cho tuyến giáp, làm giảm mức sinh sản của tế bào tuyến do đó làm tuyến bé lại. Bệnh nhân được nhận một liều 131I từ 5 đến 7 mi li cu ri tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh kết quả khỏi hẳn sau ba tháng. Tuy nhiên, tỷ lệ suy giáp sua 15 đến 20 năm là 2 đến 3%. Điều trị phẫu thuật cũng có kết quả tốt, tuy nhiên đôi khi có nhiễm tùng vết mổ gây sẹo xấu, suy tuyến cận giáp gây con têtani do cắt phải hay làm tổn thương tuyến cận giáp.
BS Đào Thị Bích Thủy-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Kháng Lạc Cao bài thuốc chữa bệnh nghiện ma túy nhiệm mầu của Việt Nam

Những điều ghi nhận được ở một bệnh viện
Kể từ ngày bệnh viện Tâm Thần Biên Hòa có thêm Khoa cai nghiện ma túy tính đến nay đã được 4 năm. Suốt trong quãng thời gian ấy bệnh viện đã tiếp nhận chữa trị cho hơn ngàn lượt người tự nguyện đến cai nghiện ma túy, tất cả đều đã vĩnh viễn rũ bỏ quá khứ, vĩnh viễn thoát khỏi vương lụy với nàng tiên nâu. Khi tiếp xúc với lương y Lưu Văn Xiêm tác giả bài thuốc Kháng lạc cao Bông sen ông đã cho biết: đây là bài thuốc gia truyền của ông nội và cụ thân sinh ra ông truyền lại. Ở thời các cụ, bài thuốc này chỉ được sử dụng trong phạm vi hẹp ở địa phương quê ông: Tiền Giang. Thời đó các cụ chữa bệnh để làm phúc, theo kiểu cứu nhân độ thế. Vì thế biệt dược này mới có tên là Bông Sen. Hình tượng Bông sen có nghĩa là hướng thiện về phật. Nhãn hiệu này do ông nội tôi là Lưu Văn Kỳ đặt làm tên thuốc, để nhắc nhở bố tôi là lương y Lưu Văn Xứng phải luôn luôn tâm niệm trong nghề chữa bệnh, thầy thuốc phải để tâm hướng thiện, lấy y đức làm đầu, để cứu nhân độ thế. Nay đến đời tôi, là thế hệ thứ ba trong gia tộc, tôi cũng nối nghiệp ông, cha tôi đã có may mắn được tiếp thu một gia sản vô cùng quí giá, đó là những bài thuốc gia truyền chữa bệnh nan y như ma túy, bướu cổ, bệnh kín ở đường sinh dục và một số bệnh xã hội khác… Trong số bài thuốc gia truyền do các cụ truyền lại, tôi đặc biệt quan tâm đến bài thuốc Bông Sen chữa bệnh cai nghiện ma túy. Nên tôi đã đầu tư tiền bạc, công sức nghiên cứu, bổ sung thêm nhiều dược liệu cho bài thuốc trở nên hoàn chỉnh, phát huy hết công dụng của nó trong chữa trị bệnh ghiền ma túy… Đặc biệt trong vòng 4 năm trở lại đây, bài thuốc Bông Sen có tên là Kháng lạc cao Bông Sen, đã được ứng dụng rộng rãi toàn khoa cai nghiện ma túy bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, nó đã có tác dụng tốt, giúp cho 1.033 bệnh nhân dứt khỏi bệnh ghiền ma túy vĩnh viễn.
Bài thuốc cứu người
Hội đồng khoa học kỹ thuật của bệnh viện cũng đã từng có những nhận xét đánh giá về hiệu quả của việc dùng thuốc Kháng lạc cao Bông Sen cai ma túy như sau: Thuốc có tác dụng sớm với dị cảm dòi bò trong xương. Thuốc ổn định về chất lượng, ngoài tác dụng về cai nghiện còn làm tăng nhanh khả năng hồi phục về thể chất và tinh thần cho người nghiện.Các triệu chứng khác hết nhanh từ ngày thứ năm đến ngày thứ bảy. Triệu chứng đau cơ và chảy nước mũi hết ở ngày thứ tám. Sau 10 ngày điều trị, bệnh nhân không còn triệu chứng gì của sự nghiện ma túy. Trong thời gian điều trị chưa nhận thấy một tai biến nào do thuốc. giữa năm 1993 dưới sự chủ trì của học viện Quân Y – bộ quốc phòng do giáo sư tiến sĩ Thiếu tướng viện trưởng Lê Thế Trung chỉ đạo phối hợp với bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, Trung tâm cai nghiện Hà Nội, Việc kiểm nghiệm Bộ y tế đã tổ chức hội nghị theo chương trình 06/CP cấp quốc gia để thuyết minh đề tài khoa học theo hướng ưu tiên phòng chống và kiểm soát ma túy. Nghiên cứu hoàn thiện và ứng dụng bài thuốc Kháng lạc cao có tác dụng cai nghiện ma túy do Lương y Lưu Văn Xiêm chủ nhiệm đề tài. Hội nghị đã phân tích đánh giá hiệu quả của bài thuốc, xét trên ba ý nghĩa về kinh tế – khoa học và xã hội cụ thể như sau: Về ý nghĩa khoa học: đây là một bài thuốc có tính khoa học và phương pháp cai nghiện đơn giản tạo được thoải mái dễ chấp nhận cho người nghiện. Thuốc ổn định về chất lượng, ngoài tác dụng về cai nghiện còn làm tăng nhanh khả năng hồi phục về thể chất và tinh thần cho người nghiện. Về ý nghĩa kinh tế: Bài thuốc bào chế từ dược liệu sẵn có trong nước có khả năng khai thác để đáp ứng điều trị và xuất khẩu. Về xã hội: Bài thuốc sẽ góp phần giải quyết tệ nạn nghiện ma túy cho xã hội, nhanh chóng trả lại nguồn nhân lực cho xã hội. Góp phần tránh lây lan các bệnh nguy hại AIDS do tiêm chích,… Dựa trên cơ sở Kháng lạc cao đã có công dụng tốt trong thực tế điều trị cai nghiện ma túy, đã được kiểm nghiệm bằng nhiều phương pháp khoa học nên ngày 22 tháng 3 năm 1994, Bộ khoa học và công nghệ – môi trường, cục sở hữu công nghiệp đã cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho lương y Lưu Văn Xiêm. Thế nhưng, tiếc rằng, cho đến nay bài thuốc đặc trị bệnh ma túy này, vẫn chưa được phép của Bộ y tế để sản xuất đại trà, lưu hành công khai rộng rãi.
Thái Hoàng-Trí Thức Trẻ – số 4 – 1995

Cụ Nguyễn Tuân “chơi chữ”

Hình bóng, văn nghiệp của một nhà văn mờ hay tỏ sau khi đã buông hẳn bút, ngoài tác phẩm, còn bởi cốt cách, phong cách của nhà văn đó nữa.
Trường hợp cụ Nguyễn Tuân ở nước ta là một vang bóng đến nay và chắc lâu sau nữa vẫn còn vang. Có người hiểu và nhớ về cụ xoắn: một chữ… “ngông”. Người vừa nể vừa ngại. Người vừa kính trọng vừa nhớ thương mãi. Người sinh sau nghe người lớp trước nói mãi, nhắc mãi về một điều nào đó, mãi rồi cũng tin. Sự trái ngược ấy nói lên sự này. Ở cụ, từ nghiệp văn đến cuộc đời – con người của cụ đã mang một giá trị hiếm thấy về tài năng – tác phẩm – phong cách một nhà văn có vị trí vững chắc trong nền văn học nước nhà.
Trước khi nhắc lại cái chữ “ngông” mà không biết ai là người đầu tiên tặng cho cụ, cần phải hiểu về cụ và gia tài văn chương của cụ thật tường tận mới không có sự nhầm lẫn hoặc vô tình xúc phạm đến một nhà văn lão thành.
Một trong những điều rất riêng trong phong cách của cụ là: Không như ai, không giống ai. Cụ là một nhà văn lịch lãm, có một trường đời thăm thẳm vừa gồ ghề, vừa thênh thênh; đông tây kim cổ thông thạo, sướng khổ từng trải, vào Nam hay ra Bắc, đi đó đi đây, chữ nghĩa không thiếu… mà cứ viết đến đâu là y như gây được sự chú ý, xôn xao đến đó. Người đọc bị tác phẩm của cụ phân hóa thành những nhóm khác nhau về cách đánh giá từ lối viết đến nội dung các trang viết suốt từ dạo “Vang bóng một thời” đến tận nay. Rõ nhất là cách hành văn, lối dùng chữ của cụ. Giá như thế mà khó hiểu, mà rối rít tít mù cho cam. Không, văn của cụ đọc đâu hiểu đấy ngay. Nội dung cũng không có gì là bí hiểm lập lờ. Nổi rõ lên là một sự khác lạ, khác thường nào đó. Hà Nội có hồ Hoàn Kiếm, cụ lại đặt thêm cho cái tên: hồ Trả Gươm! Có gì sai đâu? Dường như trong tất cả các bài viết của mình, cụ đã thưởng thức chữ nghĩa tựa chơi chữ, chứ không chỉ là viết văn nữa. Ví như ở bài viết kể về lúc cụ gặp tên giặc lái Mỹ bị thương nằm ngay đơ, hắn xin thuốc lá để hút, cụ viết: “Tôi cắm một điếu thuốc Điện Biên vào mồm thằng giặc…” (P. T. gạch dưới chữ cắm). Rồi: “Tôi bật diêm châm vào mặt nó”. Thoạt đọc ngỡ có vẻ ngang. Song, không là cắm, thì chả nhẽ là đặt, là dứt? Không được. Chỉ cắm là đắt nhất. Vừa hạ đối phương xuống một cách lịch sự, vừa hóm hỉnh pha chút tinh nghịch khi lại bật diêm “châm vào mặt”. Quả là khi thoát khỏi ngòi bút của nhà văn Nguyễn Tuân, ngôn nữ đã phải quẩy lên. Ấy khi Hà Nội mới có loại bia hơi bán cho người uống, cụ đặt luôn cái tên là BIA BOM trong một bài bút ký.
Không chỉ lúc viết cụ mới thưởng thức ngôn ngữ, mà cả trong đời sống thường ngày, mọi việc ăn uống ở nơi chuyển, máy móc v.v., với cụ cũng là một và những thưởng thức khác nữa. Trân trọng, sảng khoái, nâng niu đến mức tinh thông. (Bảo là sành điệu cũng còn là mức thấp và tầm thường), cái bát phở chính hiệu và vị thơm của miếng giò lụa Nguyên Hương mà cụ có lần viết tới, nay khó mà thấy ở cửa hiệu, quán phở nào. Đôi khi tựa thứ cầu kỳ. Cầu kỳ với chính mình chứ cụ đâu có bắt bẻ gì ai? Trong đời sống, có lẽ vì đã quen với mọi sự xuôi xuôi, êm phẳng nên gặp chút gọn, thi chững lại một chút cũng phải.
Cách viết của nhà văn Nguyễn Tuân đầy công phu, sức nghĩ, chứ không phải dễ dàng. Viết về sông Đà, gặp đoạn kể về thác, tác giả đã liệt kê tới hàng trăm tên gọi, nơi có ghềnh thác và khéo đặt, khi đọc lén rất vui tai. Cứ thỉnh thoảng cụ lại xen vào một “lối nói“ khác thường. Không nói: cột nước đá nặng 25 kg, mà lại viết: “Cột đá nặng góc tư lạ Tây…“. Trong tất cả các sách, bài viết của cụ, bài nào, sách nào, người đọc cũng gặp cách nói, lối viết như thế. Mà không nhàm. Luôn gây bất ngờ.
Nguyễn Tuân với những trang tùy bút ít ra là ở thế kỷ 20 này tại nước ta, chưa có ai tương tư thế và không ai có thể bắt chước nổi. Bởi chỉ có cụ mới nghĩ và mới viết như vậy. Phải có bản lĩnh làm, trước sau từ lúc trẻ đến khi già mới giữ vững được mình. “Văn là người” câu nói này đã xưa lắm, song cứ sừng sừng như cụ Nguyễn Tuân, một mực với chính mình, rất khổ và chưa nhiều.
Mỗi nhà văn, ai nấy đều có một con đường riêng, tư chất riêng, phong cách riêng để sáng tạo, hướng tới CH N, THIỆN, MỸ. Ví ngôn ngữ như một thứ âm binh, thì nhà văn phải là thầy phù thủy cao tay mới điều khiển nỗi. Bài học (hay gọi là kinh nghiệm cũng được) của nhà văn Nguyễn Tuân để lại cho đời sau và cách sử dụng ngôn ngữ trong lúc viết văn là: Chữ nghĩa sẽ trơ ra nếu đầu óc anh không chịu động đậy. Chữ nghĩa sẽ rẫy lên, tươi roi rói nếu anh phả vào cho nó cái hồn là sự tìm tòi vã sáng tạo, trí tuệ.
Phong Thu – Tri thức trẻ (số 4) – 1995